Đề gồm 3 câu, trong đó câu 3 nhiều điểm nhất (4), cũng khó nhất với việc trích đoạn trong truyên "Lặng lẽ Sa Pa" và yêu cầu thí sinh liên hệ một nhân vật trong tác phẩm khác, hoặc trong thực tế đời sống để thấy được sức trẻ Việt Nam.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đọc - Hiểu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đọc - Hiểu. Hiển thị tất cả bài đăng
Đề thi và đáp án môn Văn tuyển sinh lớp 10 của TP HCM
TS10. TPHCM 2016-2017-Gợi ý của báo Thanh Niên
KÌ THI TUYỂN SINH LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Khóa ngày 11 tháng 06 năm 2016 tại TPHCM
Môn thi : VĂN
Thời gian: 120 phút (không tính thời gian giao đề)
ĐỀ CHÍNH THỨC
Câu 1: (3,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Năm tháng qua đi, bạn sẽ nhận ra rằng ước mơ không bao giờ biến mất. Kể cả những ước mơ rồ dại nhất trong lứa tuổi học trò – lứa tuổi bất ổn định nhất. Nếu bạn không theo đuổi nó, chắc chắn nó sẽ trở lại một lúc nào đó, day dứt trong bạn, thậm chí dằn vặt bạn mỗi ngày.
Nếu vậy, sao bạn không nghĩ đến điều này ngay từ bây giờ?
Sống một cuộc đời cũng giống như vẽ một bức tranh vậy. Nếu bạn nghĩ thật lâu về điều mình muốn vẽ, nếu bạn dự tính được càng nhiều màu sắc mà bạn muốn thể hiện, nếu bạn càng chắc chắn về chất liệu mà bạn sử dụng, thì bức tranh trong thực tế càng giống với hình dung của bạn. Bằng không có thể nó sẽ là những màu mà người khác thích, là bức tranh mà người khác ưng ý, chứ không phải bạn.
Đừng để ai đánh cắp ước mơ của bạn. Hãy tìm ra ước mơ cháy bỏng nhất của mình, nó đang nằm ở nơi sâu thẳm trong tim bạn đó, như một ngọn núi lửa đợi chờ được đánh thức…
(Theo Phạm Lữ Ân, Nếu biết trăm năm là hữu hạn, NXB Hội Nhà văn, 2012)
a. Tìm thành phần phụ chú trong văn bản trên và cho biết tác dụng của thành phần ấy. (0,5 điểm)
b. Xác định ít nhất một biện pháp tu từ được sử dụng trong câu Sống một cuộc đời, cũng giống vẽ một bức tranh vậy và chỉ ra tác dụng của biện pháp tu từ ấy. (0,5 điểm)
c. Nêu nội dung văn bản trên. (1,0 điểm)
d. Theo em, có phải lúc nào cũng nên theo đuổi ước mơ? Trả lời trong khoảng 3 - 5 dòng (1,0 điểm)
Câu 2: (3,0 điểm)
Phải chăng chỉ có những điều ngọt ngào mới làm nêu yêu thương?
Em hãy viết bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi) trả lời cho câu hỏi trên.
Câu 3: (4,0 điểm)
Trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa, nhà văn Nguyễn Thành Long đã viết về nhân vật anh thanh niên như sau:
Anh hạ giọng, nửa tâm sự, nửa đọc lại một điều rõ ràng đã ngẫm nghĩ nhiều:
- Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kĩ mới thấy một ngôi sao xa, cháu cũng nghĩ ngay ngôi sao kia lẻ loi một mình. Bây giờ làm nghề này cháu không nghĩ như vậy nữa. Vả, khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi việc của cháu gắm liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất. Còn người thì ai mà chả “thèm” hở bác? Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc? Đấy, cháu tự nói với cháu thế đấy. Bác lái xe đi, về Lai Châu cứ đến đây dừng lại một lát. Không vào “ốp” là cháu chạy xuống chơi, lâu thành lệ. Cháu bỗng dưng tự hỏi: Cái nhớ xe, nhớ người ấy thật ra là cái gì vậy? Nếu là nỗi nhớ phồn hoa đô hội thì xoàng. Cháu ở liền trong trạm hàng tháng. Bác lái xe bao lần dừng, bóp còi toe toe, mặc, cháu gan lì nhất định không xuống. Ấy thế là một hôm, bác lái phải thân hành lên trạm cháu. Cháu nói: “Đấy, bác cũng chẳng “thèm” người là gì?”.
Anh xoay sang người con gái đang một mắt đọc cuốn sách, một mắt lắng nghe, chân cô đung đưa khe khẽ, nói:
- Và cô cũng thấy đấy, lúc nào tôi cũng có người trò chuyện. Nghĩa là có sách ấy mà. Mỗi người viết một vẻ.
Cảm nhận của em về nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích trên. Từ đó, hãy liên hệ với hình ảnh của thế hệ trẻ trong một tác phẩm văn học khác hoặc trong thực tế đời sống để thấy được vẻ đẹp của sức trẻ Việt Nam
---HẾT---
BÀI GIẢI GỢI Ý
Câu 1 :
a. Thành phần phụ chú được thể hiện ở phần gạch dưới trong câu văn sau:
Kể cả những ước mơ rồ dại nhất trong lứa tuổi học trò – lứa tuổi bất ổn định nhất.
Thành phần phụ chú này có tác dụng bổ sung thể hiện rõ nhận thức tinh tế của người viết về lứa tuổi học trò: lứa tuổi bất ổn định nhất (lứa tuổi mới lớn, tâm sinh lý chưa ổn định nên có những suy nghĩ và biểu hiện không ổn định, khó đoán, nhiều khi người lớn khó lý giải một cách lô-gíc).
b. Câu “Sống một cuộc đời cũng giống như vẽ một bức tranh vậy” có biện pháp tu từ là so sánh: so sánh việc sống một cuộc đời với việc vẽ một bức tranh. Tác dụng của biện pháp này nêu lên nhận thức của người viết về đặc điểm của cuộc sống con người. Cuộc đời giống một bức tranh. Do đó mỗi người giống như một họa sĩ. Họa sĩ phải chủ động để sáng tạo nên bức tranh, con người cũng phải chủ động sống cuộc đời mà mình muốn tạo ra cho mình.
c. Nội dung của văn bản:
- Lời khuyên của tác giả Phạm Lữ Ân đối với những người trẻ tuổi: Hãy tìm ra ước mở cháy bỏng nhất trong nơi sâu thẳm của trái tim mình để tạo ra bức tranh riêng của chính đời sống mình cho dù đó là bức tranh tươi đẹp hay u ám. Hãy chủ động vẽ nên bức tranh của đời mình đừng để người khác vẽ giùm. Mỗi chúng ta có một cuộc đời không nên lãng phí nó. Đừng để người khác ăn cắp cuộc đời và luôn luôn nuôi dưỡng ước mơ của chính mình. “Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi, nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”.
d. Theo em, lúc nào cũng phải theo đuổi ước mơ dù là ở một hoàn cảnh đầy khó khăn và nghiệt ngã. Có ai đó đã nói rằng “Nước và nắng làm cho cho cây xanh tươi, ước mơ làm cho đời người cao đẹp hơn và có ý nghĩa hơn”. Theo em, người không nuôi dưỡng ước mơ như một lò than hồng đã tắt.
Câu 2:
Thí sinh cần đáp ứng yêu cầu của câu hỏi: trình bày suy nghĩ của mình được gợi lên từ vấn đề đã nêu trên trong phạm vi khoảng một trang giấy thi. Thí sinh có thể triển khai suy nghĩ của mình theo những cách thức cụ thể khác nhau. Sau đây là một số gợi ý để tham khảo:
*Yêu cầu chung : thí sinh biết kết hợp kiến thức và kỹ năng về dạng bài nghị luận xã hội để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
*Yêu cầu cụ thể:
a- Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận.
b- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Không phải chỉ có những điều ngọt ngào mới làm nên yêu thương. Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, sau đây là một gợi ý:
· Mở bài:
Hình như tình yêu thương không phải là một đặc trưng của loài người mà còn ở một số loài động vật khác. Thông thường yêu thương được phủ dưới một lớp áo của sự dịu dàng và ngọt ngào. Nhưng sự ngọt ngào chưa đủ để làm nên một tình yêu vĩ đại. Thật vậy, hãy nghĩ đến những khía cạnh khác của yêu thương bên cạnh ngọt ngào.
· Thân bài:
- Giải thích: Thế nào là yêu thương? Có nhiều loại yêu thương như tình mẫu tử, tình thầy trò, tình bạn bè… và có bao nhiêu thời đại, có bao nhiêu con người thì có bấy nhiêu cung cách yêu thương.
- Cung cách thường thấy nhất của yêu thương là sự ngọt ngào. Có yêu thương, ông bà, cha mẹ mới không giận dữ, quát mắng, rầy la, đánh đập khi con cháu làm việc sai quấy và luôn luôn vuốt ve, dịu dàng, vỗ về, chăm sóc khi con cháu thất bại trên đường đời. Có yêu thương, thầy cô mới không bực mình, la mắng khi học trò nói chuyện, nghịch giỡn trong giờ học, trong lúc thầy cô đang giảng bài. Có yêu thương, anh chị không nề vất vả, mất thời gian mà nhẹ nhàng, từ tốn hướng dẫn các em trong việc học, việc làm…
- Tuy nhiên, tục ngữ Việt Nam có câu: “Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi” hay “Thuốc đắng dã tật, lời thật mất lòng”. Những câu tục ngữ này đã khẳng định rằng roi vọt, lời mắng chửi có khi cũng là một cung cách biểu hiện của yêu thương. Khi con hư, cha mẹ thường giận dữ la mắng và đánh đòn nhưng ẩn đằng sau đó là một tình yêu thương vô bờ bến. Những lời trách mắng, những đòn roi đó có mục đích cao thượng là muốn con nên người. Khi học trò nói chuyện trong lớp, thầy cô đuổi học trò ra khỏi lớp nhưng trong lòng thầy cô là một tình yêu thương và một sự ngậm ngùi. Mục đích của người thầy là rèn luyện cho học trò mình thành một người vừa hồng vừa chuyên.
- Câu chuyện Lưu Bình – Dương Lễ ngày xưa cũng là một ví dụ cho thấy đôi khi yêu thương phải được ngụy trang bằng sự lạnh lùng và tàn nhẫn. Có những câu chuyện mà cái tát tai không phải của lòng thù hận mà bắt nguồn từ tình yêu thương, mà nhiều năm sau người nhận tát tai mới hiểu ra.
- Trong thực tế xã hội, những kẻ xấu thường sử dụng những lời ngọt ngào như những thủ đoạn để đánh lừa người khác.
- Trong tình thân bạn bè khi bạn mình sai thì rất cần những lời thẳng thắn như thuốc đắng dẫu có thể làm mất lòng bạn lúc đó nhưng sẽ có ích lợi lâu dài.
- Có những tiểu thuyết và phim ảnh nói về những tình yêu vĩ đại chúng ta bắt gặp bên cạnh những ngọt ngào là những đớn đau và cay đắng.
- Đôi khi sự yêu thương còn thể hiện bằng một sự im lặng mênh mông.
· Kết bài: Lòng yêu thương thường được biểu hiện bằng lời nói và thái độ ngọt ngào nhưng sự ngọt ngào chưa chắc đã xuất phát từ tình yêu thương thật sự. Cho nên, sống ở trên đời, chúng ta cần phải có thái độ tỉnh táo, khách quan trước mọi sự ngọt ngào và cay đắng. Bởi vì, “mật ngọt chết ruồi” và “kẻ khen ta mà khen đúng là bạn ta, kẻ chê ta mà chê đúng là thầy ta, còn kẻ nịnh ta là kẻ thù của ta”.
Câu 3:
* Yêu cầu chung: Thí sinh phải biết kết hợp kiến thức và kỹ năng làm bài nghị luận văn học: Cảm nhận vể một nhân vật trong một đoạn trích. Bài viết có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
* Yêu cầu cụ thể :
Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận gồm đủ 3 phần. Trong đó phần thân bài phải đáp ứng đủ hai yêu cầu của đề bài:
+ Cảm nhận về nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích của đề bài
+ Hình ảnh của thế hệ trẻ trong một tác phẩm văn học khác hoặc trong thực tế đời sống biểu hiện vẻ đẹp của sức trẻ Việt Nam.
Học sinh có thể triển khai bài viết theo những nội dung cụ thể khác nhau. Sau đây là một gợi ý.
- Mở bài:
- Giới thiệu vài nét về nhà văn Nguyễn Thành Long.
- Giới thiệu tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa. Trong đó có đoạn trích được dẫn ở đề bài mang lại cho người đọc nhiều cảm nhận về nhân vật anh thanh niên.
- Thân bài:
- Phần 1 : Cảm nhận nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích
+ Một người yêu mến công việc dù làm việc một mình trên đỉnh núi Yên Sơn trong khung cảnh vắng vẻ nhưng anh không cảm thấy lẻ loi vì công việc mang lại cho anh niềm vui và nhận thức về ý nghĩa của công việc làm. Cho nên với anh: ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được?
+ Một người có lòng yêu mến con người. Sống đơn độc nên anh rất khao khát được gặp gỡ và trò chuyện với mọi người. Chính anh đã khẳng định với bác tài xế xe khách: Còn người thì ai mà chả “thèm” hở bác?.
+ Một người ham học hỏi, rất quan tâm đến đời sống nội tâm. Sống một mình trên đỉnh núi, anh không cảm thấy cô đơn vì lúc nào bên cạnh anh cũng có sách. Ngoài giờ làm việc, ngoài lúc phải chăm sóc vườn hoa, đàn gà, anh dành thời gian để đọc sách. Khi cô kĩ sư, ông họa sĩ… đến phòng ở của anh và quyển sách anh đang đọc dở vẫn còn để mở trên bàn. Chính anh cũng đã khẳng định với cô kĩ sư: Và cô cũng thấy đấy, lúc nào tôi cũng có người trò chuyện. Nghĩa là có sách ấy mà. Mỗi người viết một vẻ. Cái cách đọc sách của anh tinh tế, nghiêm túc và đúng đắn biết bao.
+ Một người sống có lý tưởng, có trách nhiệm. Anh ý thức một cách rất rõ ràng: Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc?. Nhận thức đó cho thấy anh trẻ nhưng không hời hợt. Anh sống một mình nhưng không cô đơn vì lúc nào trong tư tưởng của anh mục đích sống, lẽ sống vẫn luôn luôn tồn tại và nhắc nhở. Làm một công việc đơn độc, phải dậy vào lúc nửa đêm, phải ra ngoài trời lúc mưa bão, lạnh lẽo, anh có thể nằm ở trong nhà, lấy số liệu cũ mà gọi bộ đàm về để báo cáo. Nhưng anh không làm điều đó. Vì anh có trách nhiệm và anh hiểu rõ việc anh làm ở đây có liên quan, có ảnh hưởng đến cuộc sống lao động và chiến đấu của rất nhiều người lúc bấy giờ. Việc phái đoàn không quân – phòng không đến thăm và khen ngợi anh đã cho thấy rõ điều đó.
+ Nhân vật anh thanh niên được xây dựng bằng một nghệ thuật đặc sắc. Nó được miêu tả và thể hiện qua cuộc gặp gỡ đặc biệt với ông họa sĩ già và cô kĩ sư trẻ; được bộc lộ qua lời đối thoại của nhân vật; nhân vật không có tên riêng, không có ngoại hình cụ thể mà chỉ có tên gọi theo kiểu chung, phiếm chỉ.
+ Vì thế, hình ảnh người thanh niên thể hiện vẻ đẹp của người thanh niên Việt Nam nói chung trong giai đoạn chống Mĩ: giản dị, chân thành và giàu lý tưởng; góp phần thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm, thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong chiến đấu; thể hiện cảm hứng của Nguyễn Thành Long khi sáng tác: “SaPa không chỉ là một sự yên tĩnh. Bên dưới sự yên tĩnh ấy, người ta làm việc”, hy sinh, yêu thương và mơ ước. Hình ảnh này gợi cho người đọc đến hình ảnh của thế hệ trẻ Việt Nam trong giai đoạn chống Mĩ nói riêng và theo dòng chảy thời gian nói chung.
- Phần 2: Nó gợi đến hình ảnh những người như cô Phương Định, Nho, Thao trong tác phẩm Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê).
+ Những cô thanh niên xung phong làm công tác trinh sát mặt đường trên đường mòn Trường Sơn trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ gian khổ, ác liệt và đầy nguy hiểm.
+ Nhưng họ là những người rất lạc quan, thích đùa tếu, mỗi người một vẻ. Trong đó tiêu biểu nhất là Phương Định. Đó là một cô gái Hà Nội xinh đẹp, có tâm hồn nhạy cảm, lao động và chiến đấu gan góc, dũng cảm và cũng là người có ý thức, có tình cảm đẹp về tình đồng đội của những người thanh niên: Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mĩ / Mà lòng phơi phới dậy tương lai.
- Phần 3: So sánh hai hình ảnh đã nêu trên
+ Họ là những nhân vật khác nhau trong những tác phẩm văn học khác nhau. Họ khác nhau về giới tính, về môi trường sống, về công việc cụ thể. Nhưng họ là những người thanh niên của cùng một thời kì chiến tranh, cùng thể hiện vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam trong một thời kì lịch sử đầy khốc liệt của Tổ quốc và cùng để lại những ấn tượng sâu đậm đối với người đọc ở các giai đoạn sau.
- Kết bài:
Đây là một đoạn văn ngắn nhưng biểu hiện được những nét tiêu biểu cho nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, của nhân vật anh thanh niên. Tác giả Nguyễn Thành Long đã thành công trong việc khắc họa nét đẹp của tuổi trẻ Việt Nam trong giai đoạn chiến tranh cũng như trong giai đoạn hiện nay.
Nguyễn Đức Hùng(Trung tâm luyện thi Vĩnh Viễn – TP.HCM)
Lịch thi tuyển sinh lớp 10 tại TP.HCM:
Ngày thi
|
Buổi
|
Môn thi
|
Thời gian làm bài
|
Giờ mở túi đề thi
|
Giờ phát đề thi cho thí sinh
|
Giờ bắt đầu làm bài
|
11.6.2016
|
Sáng
|
Ngữ văn
Ngoại ngữ
|
120 phút
60 phút
|
7 giờ 40
13 giờ 40
|
7 giờ 55
13 giờ 55
|
8 giờ 00
14 giờ 00
|
12.6.2016
|
Sáng
|
Toán
|
120 phút
|
7 giờ 40
|
7 giờ 55
|
8 giờ 00
|
Chiều
|
Môn chuyên
|
120phút/ 150 phút
|
13 giờ 40
|
13 giờ 55
|
14 giờ 00
|
Thanh Niên Online
Từ liên quan:
2016,
2016-2017,
Anh thanh niên,
Đọc - Hiểu,
Lặng lẽ Sapa,
Mơ ước,
Ngọt ngào,
NLVH,
NLXH,
Sức trẻ VN,
Yêu thương
Đề-Gợi ý thi THPT Quốc gia 2015
ĐỀ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM
2015
MÔN THI: NGỮ VĂN
Thời
gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc
đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:
Chúng tôi đứng đây trần trụi giữa trời
Cho
biển cả không còn hoang lạnh
Đứa
ở đồng chua
Đứa
vùng đất mạn
Chia
nhau nỗi nhớ nhà
Hoàng
hôn tím ngát xa khơi
Chia
nhau tin vui
Về
một cô gái làng khểnh răng, hay hát
Vầng
trăng lặn dưới chân lều bạt
Hắt
lên chúng tôi nhếch nhoáng vàng
Chúng
tôi coi thường gian nan
Dù
đồng đội tôi, có người ngã trước miệng cá mập
Có
người bị vùi dưới cơn bão dữ tợn
Ngày
mai đảo sẽ nhô lên
Tổ
quốc Việt Nam, một lần nữa nối liền
Hoàng
Sa, Trường Sa
Những
quần đảo long lanh như ngọc dát
Nói
chẳng đủ đâu, tôi phải hát
Một
bài ca bằng nhịp trái tim tôi
Đảo
à, đảo ơi!
Đảo Thuyền Chài, 4-1982
(Trích Hát về một hòn đảo- Trần Đăng Khoa, Trường Sa, NXB Văn học, 2014, tr51)
Câu 1. Đoạn thơ trên được viết theo thể
thơ nào?
Câu 2. Cuộc sống gian khổ và hiểm nguy
trên đảo của người lính được miêu tả qua những từ ngữ, hình ảnh nào?
Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện
pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Những
quần đảo long lanh như ngọc dát.
Câu 4. Đoạn thơ đã gợi cho anh/chị tình
cảm gì đối với những người lính đảo? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)
Đọc
đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:
Hội
chứng vô cảm hay nói cách khác là căn bệnh trơ cảm xúc trước niềm vui, nhất là
nỗi đau của người khác, vốn là một mặt trong hai phương diện cấu trúc bản chất
Con – Người của mỗi sinh thể người. Tính “con” và tính “người” luôn luôn hình
thành, phát triển ở mỗi con người từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi
tay. Cái thiện và cái ác luôn luôn song hành theo từng bước đi, qua từng cử
chỉ, hành vi của mỗi con người trong mối quan hệ với cộng đồng, với cha mẹ, anh
chị em, bạn bè, bà con làng xóm, đồng bào, đồng loại. Trong cuộc hành trình lâu
dài, gian khổ của một đời người, cái mất và cái được không phải đã được nhận ra
một cách dễ dàng. Mất một đồng xu, một miếng ăn, mất một phần cơ thể, mất một
vật sở hữu, con người nhận biết ngay. Nhưng có những cái mất, cái được nhiều
khi lại không dễ gì cảm nhận được ngay. Nhường bước cho một cụ già cao tuổi,
nhường chỗ cho bà mẹ có con nhỏ trên tàu xe chật chội, biếu một vài đồng cho
người hành khất,… có mất có được nhưng không phải ai cũng đã nhận ra cái gì
mình đã thu được; có khi là sự thăng hoa trong tâm hồn từ thiện và nhân ái. Nói
như một nhà văn lớn, người ta chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại không biết lo
tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần. Tôi muốn đặt vấn đề là cùng với sự báo
động những hiểm họa trong thấy, cần báo động cả hiểm họa không trông thấy hay
khó trông thấy. Hiện nay đã có quá nhiều dấu hiệu và sự kiện trầm trọng của
hiểm họa vô cảm trong xã hội ta, nhất là trong tuổi trẻ. Bạo lực đã xuất hiện
dữ dằn những tháng ngày gần đây báo hiệu nguồn gốc sâu xa ở sự xuống cấp nghiêm
trọng về nhân văn, về bệnh vô cảm.
(Trích
Nguồn gốc sâu xa của hiểm họa,
Bài tập Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014, tr36-37)
Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt
chính được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 6. Theo tác giả, nguồn gốc sâu xa
của nạn bạo lực xuất hiện gần đây là gì?
Câu 7. Tác giả đã thể hiện thái độ gì
khi bàn về hiểm họa vô cảm trong xã hội hiện nay?
Câu 8. Anh/ Chị suy nghĩ như thế nào
khi có những người “chỉ lo túi tiền rỗng
đi nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần”? (Trình
bày khoảng 5 đến 7 dòng)
II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (3,0 điểm)
Có ý kiến cho rằng: Việc rèn luyện kĩ năng sống cũng cần thiết
như việc tích lũy kiến thức.
Anh/ Chị hãy viết bài văn nghị luận
(khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ của mình về vấn đề trên.
Câu 2 (4,0 điểm)
Người
đàn bà bỗng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình:
-
Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày
cách mạng về đã đỡ đói khổ chứ trước kia vào các vụ bắc, ông trời làm động biển
suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối…
-
Lão ta trước hồi bảy nhăm có đi lính ngụy không? – Tôi bỗng hỏi một câu như lạc
đề.
-
Không chú à, cũng nghèo khổ, túng quẫn đi vì trốn lính – bỗng mụ đỏ mặt – nhưng
cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật.
-
Vậy sao không lên bờ mà ở - Đẩu hỏi.
-
Làm nhà trên đất ở một chỗ đâu có thể làm được cái nghề thuyền lưới vó? Từ ngày
cách mạng về, cách mạng đã cấp đất cho nhưng chẳng ai ở, vì không bỏ nghề được!
-
Ở trên thuyền có bao giờ lão ta đánh chị không?- Tôi hỏi.
-
Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền
khác uống rượu… Giá mà lão uống rượu… thì tôi còn đỡ khổ… Sau này con cái lớn
lên, tôi mới xin được với lão… đưa tôi lên bờ mà đánh…
-
Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được! – Đẩu và tôi cùng một lúc
thốt lên.
-
Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào
là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông…
-
Phải, phải, bây giờ tôi đã hiểu – bất ngờ Đẩu trút một tiếng thở dài đầy chua
chát, - trên thuyền phải có một người đàn ông… dù hắn man rợ, tàn bạo?
-
Phải- Người đàn bà đáp – Cũng có khi biển động sóng gió chứ chú?
Lát
lâu sau mụ lại mới nói tiếp:
-
Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi
cần phải người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng
đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà
là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ.
Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở
trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi
bỏ nó! – Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ
cười- vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống
hòa thuận, vui vẻ.
-
Cả đời chị có một lúc nào thật vui không? – Đột nhiên tôi hỏi.
-
Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no…
(Trích
Chiếc thuyền ngoài xa- Nguyễn Minh
Châu, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo
dục Việt Nam, 2015, tr.75-76)
Cảm nhận của anh/ chị về nhân vật
người đàn bà hàng chài trong đoạn trích trên. Từ đó, bình luận ngắn gọn về cách
nhìn nhận cuộc sống và con người của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa.
Bài
giải gợi ý
PHẦN I
Đọc đoạn thơ
sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4 :
Câu 1. Đoạn thơ được viết theo thể thơ
tự do.
Câu 2. Cuộc sống gian khổ và hiểm nguy
trên đảo của người lính được miêu tả qua những từ ngữ “trần trụi, gian nan,
hoang lạnh” và những hình ảnh “ngã trước miệng cá mập, vùi dưới cơn bão dữ tợn”
Câu 3. Biện pháp tu từ được sử dụng
trong câu thơ : so sánh; hiệu quả nghệ thuật : lời thơ sinh động, tạo hình,
biểu cảm; tạo ấn tượng sâu đậm về vẻ đẹp của biển đảo, của quê hương.
Câu 4. Học sinh có thể trình bày nhiều
cách khác nhau, nhưng cần nêu được tình cảm đối với những người lính đảo : đồng
cảm, mến phục, tự hào.
Đọc
đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:
Câu 5. Phương thức biểu đạt chính được
sử dụng trong đoạn trích : phương thức nghị luận.
Câu 6. Theo tác giả nguồn gốc sâu xa
của nạn bạo lực xuất hiện gần đây xuất phát từ hội chứng vô cảm dẫn đến hậu quả
là sự xuống cấp nghiêm trọng về nhân văn.
Câu 7. Thái độ của tác giả khi bàn về
hiểm họa vô cảm của xã hội hiện nay: tác giả đã có cách đánh giá nghiêm túc,
khoa học; tìm ra nguyên nhân, hậu quả, nêu dẫn chứng cụ thể. Qua đó, ta có thể
thấy tác giả rất lo lắng, bức xúc về hiểm họa vô cảm.
Câu 8. Học sinh có thể trình bày nhiều
cách khác nhau, nhưng cần nêu được các ý sau:
- “Lo túi
tiền rỗng” là lo sự nghèo nàn về vật chất.
- “Lo tâm
hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần” là lo sự nghèo nàn về tâm hồn, tinh thần.
- Lo nghèo nàn về vật chất mà không lo sự nghèo
nàn về tâm hồn, tinh thần sẽ dẫn đến “hội chứng vô cảm”. Đây là một hiểm họa
sâu xa đối với xã hội.
Phần II:
Câu 1 (3,0 điểm) Có ý kiến cho rằng : Việc rèn luyện kỹ năng sống cũng cần thiết
như việc tích lũy kiến thức
Anh/chị hãy
viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ của mình về vấn đề
trên.
Yêu
cầu chung
- Câu này
kiểm tra năng lực viết bài nghị luận xã hội của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải
huy động những hiểu biết về đời sống xã hội, kĩ năng tạo lập văn bản và khả
năng bày tỏ quan điểm riêng của mình để làm bài. Trong đó, đặc biệt lưu ý đến
việc thể hiện bố cục hoàn chỉnh của một bài văn nghị luận (có đủ mở bài, thân
bài, kết bài; thân bài phải bao gồm nhiều đoạn văn), cách hành văn, chính xác
và sinh động. Đồng thời phải đáp ứng đúng và đầy đủ yêu cầu về luận đề và nội
dung.
- Thí sinh
có thể triển khai vấn đề theo nhiều cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ và căn
cứ xác đáng; được tự do bày tỏ quan điểm của mình, nhưng phải có thái độ chân
thành, nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội và luật pháp.
Yêu
cầu cụ thể
1. Giải thích ý kiến
Thí sinh cần
giải thích thế nào là kỹ năng sống và việc tích lũy kiến thức. Kỹ năng sống là
những kỹ năng cần thiết giúp con người sống và sống hội nhập được với xã hội.
Chẳng hạn như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng nói trước đám đông, kỹ năng sinh tồn
và vượt thoát trong hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ
năng học tập có phương pháp, kỹ năng giải quyết khó khăn, kỹ năng đối phó với
nguy hiểm, kỹ năng hòa hợp với thiên nhiên,... Từ đó xác định ý kiến được nêu
trong đề có nội dung khẳng định vai trò quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng
sống: cũng cần thiết như việc tích lũy kiến thức.
2. Bàn luận
Thí sinh có
thể mở rộng sự bàn luận ra các hướng khác nhau; dưới đây là những ý tham khảo
(không nhất thiết thí sinh phải làm giống những ý này):
- Để có thể
hòa hợp với đời sống xã hội, con người cần phải tích lũy một số kiến thức căn
bản từ gia đình, nhà trường, xã hội, sách vở, báo chí,...
- Có nhiều
người bị vấp ngã một cách đau đớn vì thiếu kỹ năng sống. Đôi khi thiếu vài kỹ
năng sống nào đó mà con người phải trả một giá khá đắt (ví dụ minh họa).
- Thiếu kỹ
năng sống, người ta có thể hành động một cách sai trái, dại dột. Từ đó trở
thành mối nguy hiểm cho xã hội (ví dụ minh họa: thiếu kỹ năng giải quyết những
va chạm tình cờ gặp phải trong cuộc sống, chỉ từ một sự va chạm nhỏ trong giao
thông, người ta có thể trở thành một kẻ sát nhân) .
- Có kỹ năng
sống tốt, phù hợp với hoàn cảnh xã hội, người ta dễ đạt được sự thăng tiến. Có
nhiều người kiến thức và học vị không cao nhưng có kỹ năng sống tốt đã đạt được
nhiều thành công lớn trong cuộc sống (ví dụ minh họa)
- Cuộc sống
phát triển, khoa học công nghệ ngày càng đổi mới. Nó đòi hỏi người làm việc
phải có những cái kỹ năng mới như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng về ngoại ngữ,
tin học, kỹ năng hội nhập với cộng đồng quốc tế, kỹ năng ứng xử với những mặt
trái của mạng xã hội,... Ví dụ trường hợp một nữ sinh đã tự tử vì không biết
cách ứng phó với hành vi xấu xúc phạm đến đời tư từ mạng xã hội.
- Khẳng định
tính đúng đắn của luận đề: rèn luyện kỹ năng sống là một việc cần thiết không
kém với việc tích lũy kiến thức, đặc biệt đối với lứa tuổi học sinh.
3. Bài học nhận thức và hành động
Từ những suy
nghĩ và liên hệ của mình, thí sinh có thể rút ra những bài học khác nhau; dưới
đây là những ý tham khảo:
- Kỹ năng
sống không phải tự dưng mà có, nó đòi hỏi xã hội và bản thân phải có ý thức sâu
sắc về sự quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng sống. Từ trong gia đình, ông bà
cha mẹ, anh chị, ngay từ đầu phải có ý thức giáo dục và rèn luyện kỹ năng sống
cho con em của mình. Nhà trường nên đưa kỹ năng sống vào giờ học chính khóa và
xem đó là một trong những mục tiêu giáo dục quan trọng, bên cạnh việc giáo dục
kiến thức. Các tổ chức xã hội cũng nên cũng tạo điều kiện để mọi công dân được
rèn luyện kỹ năng sống. Các cấp chính quyền cần xây dựng môi trường sống lành
mạnh để góp phần tạo lập nếp sống phù hợp với chuẩn mực pháp luật và đạo đức
nêu tấm gương tốt cho những người trẻ phấn đấu và hành xử.
- Bản thân
từng người, nhất là học sinh, sinh viên cần phải thấy sự cần thiết và ích lợi
của việc rèn luyện kỹ năng sống để từ đó bên cạnh việc trao dồi kiến thức có ý
thức và nỗ lực rèn luyện kỹ năng sống.
- Nếu bên
cạnh kiến thức tốt, tất cả mọi người đều có kỹ năng sống tốt thì đời sống xã
hội sẽ trở nên tốt đẹp và đáng sống hơn.
Câu 2.
* Yêu cầu chung : Thí sinh
phải biết kết hợp kiến thức và kỹ năng về dạng bài nghị luận văn học để tạo lập
văn bản; bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết phải có cảm xúc thể
hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết;
không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
* Yêu cầu cụ thể :
1) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận:
gồm 3 phần: mở bài, thân bài, kết luận. Phần mở bài phải biết dẫn dắt hợp lý và
nêu được vấn đề; phần thân bài phải biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết
chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần kết luận phải khái quát được
vấn đề và thể hiện ấn tượng, cảm xúc sâu đậm của người viết.
2) Xác định đúng vấn đề cần nghị
luận: cảm nhận về người đàn bà hàng chài trong đoạn trích và bình luận về cách
nhìn nhận cuộc sống và con người của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
3) Biết chia các vấn đề nghị luận
thành các luận điểm phù hợp và triển khai các luận điểm ấy theo một trình tự
hợp lý, có sự liên kết chặt chẽ; biết sử dụng tốt các theo tác lập luận trong
đó có các thao tác như: phân tích, bình luận; biết kết hợp giữa nêu lý lẽ và
dẫn chứng.
* Những gợi ý cụ thể :
1) Giới thiệu tác giả Nguyễn Minh
Châu và tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa và nhân vật người đàn bà hàng chài.
2) Cảm nhận về người đàn bà hàng
chài trong đoạn trích.
a) Hoàn cảnh và số phận của người
đàn bà hàng chài:
- Thuyền nhỏ, đông con dẫn đến cuộc
sống đói nghèo.
- Không thể lên bờ vì làm nghề
thuyền lưới vó
- Thường xuyên bị chồng đánh.
b) Vẻ đẹp của một người vợ:
- Hiểu chồng và nỗi khổ của chồng
- Hiểu được vai trò của một người
chồng trong gia đình và trong cuộc sống của người làm nghề chài lưới.
c) Vẻ đẹp của một người mẹ:
- Thương con vô bờ bến
- Sẵn sàng hy sinh cuộc đời mình cho
các con
3) Bình luận về cách nhìn nhận cuộc
sống và con người của nhà văn Nguyễn Minh Châu:
a) Qua hình tượng nhân vật người đàn
bà hàng chài tác giả Nguyễn Minh Châu thể hiện cái nhìn cảm thông trước số phận
đau đớn của người phụ nữ và bao ngang trái trong một gia đình hàng chài, từ đó
thấu hiểu: mỗi người trong cõi đời nhất là người nghệ sĩ không thể đơn giản, sơ
lược khi nhìn nhận cuộc sống của con người.
b) Qua tác phẩm và nhân vật người
đàn bà hàng chài tác giả đã mang đến bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc
sống của con người: một cái nhìn đa diện, nhiều chiều, phát hiện bản chất thực
sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng.
c) Qua tác phẩm Nguyễn Minh Châu
gióng lên hồi chuông cảnh báo về nạn bạo hành gia đình là hậu quả do cái đói.
Nguyễn Thị Dịu Thu
Trường THPT Vĩnh Viễn
--------------------------------
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ THI CHÍNH THỨC KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM 2015 ĐÁP ÁN - THANG ĐIỂM
Môn thi: NGỮ VĂN (Đáp án - Thang điểm gồm có 02 trang)
--------------------------------
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ THI CHÍNH THỨC KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM 2015 ĐÁP ÁN - THANG ĐIỂM
Môn thi: NGỮ VĂN (Đáp án - Thang điểm gồm có 02 trang)
ĐỌC HIỂU 3,0
1 Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do. 0,25
2
Cuộc sống gian khổ và hiểm nguy trên đảo của người lính được miêu tả qua những
từ ngữ, hình ảnh: trần trụi giữa trời, lều bạt, gian nan, có người ngã trước miệng cá
mập, có người bị vùi dưới cơn bão dữ tợn...
0,25
3
- Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ là so sánh. (0,25 điểm)
- Hiệu quả: làm nổi bật vẻ đẹp của những quần đảo; thể hiện tình yêu, niềm tự
hào về biển đảo. (0,25 điểm)
0,50
4 Bày tỏ được tình cảm chân thành, sâu sắc dành cho những người lính đảo. 0,50
5 Phương thức biểu đạt chính là nghị luận. 0,25
6 Theo tác giả, nguồn gốc sâu xa của nạn bạo lực xuất hiện gần đây là do bệnh vô
cảm, do sự xuống cấp nghiêm trọng về ý thức nhân văn.
0,25
7 Thái độ của tác giả khi bàn về hiểm họa vô cảm: lo ngại, trăn trở... 0,50
I
8
Thể hiện được suy nghĩ chân thành, sâu sắc trước hiện tượng: có những người
“chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô
héo dần”.
0,50
LÀM VĂN
1 Viết bài văn nghị luận bày tỏ suy nghĩ về vấn đề: Việc rèn luyện kĩ năng
sống cũng cần thiết như việc tích lũy kiến thức
3,0
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận 0,25: Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển
khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận 0,50: Việc rèn luyện kĩ năng sống cũng cần thiết như việc tích lũy kiến thức.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập
luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành
động
-Giải thích: Từ việc giải thích khái niệm kĩ năng sống và kiến thức, thí sinh nêu
khái quát nội dung ý kiến.
- Bàn luận
+ Khẳng định ý kiến nêu ra là đúng hay sai, hợp lí hay không hợp lí.(0.25)
+ Bày tỏ thái độ, suy nghĩ về ý kiến bằng những lí lẽ, dẫn chứng phù hợp,
có sức thuyết phục.
1,25
- Bài học nhận thức và hành động: Rút ra bài học phù hợp cho bản thân. 0,25
d. Sáng tạo 0,25 Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu 0,25
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.
2
Cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích. Từ đó,
bình luận ngắn gọn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người của Nguyễn
Minh Châu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa
4,0
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận 0,25
Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển
khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận 0,50
Nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích; cách nhìn nhận cuộc sống và
con người của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và
vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng
- Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn trích và nhân vật người đàn bà
hàng chài. (0.5)
- Cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích: cuộc đời, số
phận (nghèo khổ, bất hạnh...); tính cách, phẩm chất (cam chịu, giàu đức hi sinh,
thấu trải lẽ đời...); nghệ thuật xây dựng nhân vật... (1.25)
- Bình luận về cách nhìn cuộc sống và con người của nhà văn Nguyễn Minh
Châu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa: (0.75)
+ Khám phá bản chất cuộc sống và con người ở góc độ thế sự bằng cái
nhìn đa diện, nhiều chiều (cuộc sống của người dân chài còn nhiều nghịch lí,
nhân vật người đàn bà vừa nhẫn nhục đến mức phi lí vừa có những phẩm chất
đẹp đẽ...).
+ Đánh giá về cách nhìn cuộc sống và con người của nhà văn trong tác phẩm.
d. Sáng tạo 0,50
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu 0,25
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.
ĐIỂM TOÀN BÀI THI : I + II = 10,00 điểm
--------- Hết ---------
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)











