Hiển thị các bài đăng có nhãn Đề thi mở. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đề thi mở. Hiển thị tất cả bài đăng

Bàn thêm về “đề mở” trong kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn

giaoducthoidai.vn

Bàn thêm về “đề mở” trong kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn
GD&TĐ - “Đề mở” đã trở thành đề tài nóng không chỉ với môn Ngữ văn mà với các môn khoa học xã hội và nhân văn khác. 
Thực hiện nhiệm vụ đổi mới giáo dục phổ thông theo tinh thần Nghị quyết 29/NQ-TW, ngày 6/3/2014 Bộ GD&ĐT đã ban hành kế hoạch số 103/KH-BGDĐT về việc tổ chức hội thảo “Đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn trong trường phổ thông”. 
Hội thảo nhằm nghiên cứu cơ sở lý luận và xây dựng kế hoạch triển khai việc đổi mới phương thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn ở trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực người học với cách thức xây dựng đề thi/kiểm tra và đáp án theo hướng mở; tích hợp kiến thức liên môn; giải quyết vấn đề thực tiễn.
Để chuẩn bị cho Hội thảo (dự kiến được tổ chức tại Hà Nội trung tuần tháng 4/2014), báo Giáo dục và Thời đại giới thiệu một số bài thảo luận về vấn đề nêu trên. 
Xin mời các ý kiến trao đổi, góp ý cho bài viết này gửi về các địa chỉ sau: nthoan@moet.edu.vn; 
ttkdung@moet.edu.vn; 
pthien@moet.edu.vn  
Trân trọng cảm ơn!  
Những năm gần đây, dù còn không ít vấn đề cần bàn về chương trình - sách giáo khoa môn Ngữ văn, phương pháp dạy học Văn, công tác đào tạo - bồi dưỡng giáo viên Ngữ văn, dư luận đã có những đánh giá tích cực về việc đổi mới trong kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn, đặc biệt là vấn đề “Đề mở” trong kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn.
Từ các chuyên gia đầu ngành, người làm công tác quản lý, chỉ đạo chuyên môn đến giáo viên trực tiếp đứng lớp, từ phụ huynh đến học sinh… đều đóng góp tiếng nói riêng của mình về vấn đề này: Đề và việc rèn luyện năng lực viết sáng tạo (PGS.TS Đỗ Ngọc Thống), Đề mở trong làm văn (GS.TS Trần Đình Sử), Đề mở và đổi mới phương pháp dạy học Ngữ vănĐề “mở ép”, bài thi “thảm họa”...
Điều đó càng chứng tỏ “vị trí số một của môn Ngữ văn” như phát biểu của Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển tại Hội thảo Quốc gia về dạy học Ngữ văn.
Nói như thế không có nghĩa là trước đây, trong kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, cũng như trong những kỳ thi Quốc gia, kể cả thi tốt nghiệp THPT và thi học sinh giỏi, môn Ngữ văn chỉ có những đề đóng, không có đề mở.
Thực tế cho thấy, có rất nhiều đề văn hấp dẫn, kích thích được hứng thú và khả năng sáng tạo của học sinh: Một bài học ý nghĩa mà cuộc sống đã dành cho em; Vai trò của đồng tiền trong cuộc sống…
Tuy nhiên, công bằng mà nói, những đề như thế không nhiều. Bởi vậy, kể từ khi xuất hiện tiếng nói đầu tiên về “đề mở”, đến nay đã có cả một luồng dư luận bàn về đề mở trong kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn.
“Đề mở” đã trở thành đề tài nóng không chỉ với môn Ngữ văn mà với các môn khoa học xã hội và nhân văn khác như: Lịch sử, Địa lý… 
Và như thế, rất cần thống nhất: thế nào là đề mở, độ mở đến đâu thì có thể chấp nhận được, với đề mở đáp án cần mở như thế nào…
Từ việc rà soát, hệ thống lại những đề Văn được đánh giá cao trong những kỳ kiểm tra/thi gần đây, có thể thấy, ngoài câu hỏi mở xuất hiện trong đề thi tốt nghiệp THPT từ năm 2008 - 2009 trở lại đây (Phát biểu về tác dụng của việc đọc sách,Thói dối trá là biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức trong đời sống xã hội, Suy nghĩ về hành động dũng cảm cứu người của học sinh Nguyễn Văn Nam,…), đề mở môn Ngữ văn chủ yếu được phát hiện thông qua những “bài văn lạ” được đăng tải trên báo giấy hoặc báo điện tử. 
Đề mở trở thành nguyên nhân đầu tiên lý giải sự thành công của những bài viết đó. Rằng nếu không có những đề Văn như thế sẽ không có những bài văn gây “sốc” đến thế, những bài văn đi từ trái tim đến trái tim như thế! (Bài viết của em Hà Minh Ngọc, Nguyễn Trung Hiếu…). 
Ở những đề bài, những câu hỏi được xem là mở đó, không thấy xuất hiện một nhân vật, một tác phẩm văn học cụ thể nào trong chương trình và sách giáo khoa phổ thông, cũng không yêu cầu học sinh phải thực hiện một thao tác nghị luận cụ thể nào…
Nghĩa là, đề mở rất thoáng. Khác với đề bài truyền thống, đề mở không có “mệnh lệnh” chỉ rõ, không bó buộc, khuôn đúc bài viết của học sinh ở một dạng, một kiểu bài, một hoặc một vài tác phẩm thuộc một giai đoạn, một thời kỳ văn học nhất định.
Với đề mở, học sinh có “đất” để thể hiện sự khám phá, tìm tòi đầy sáng tạo của mình. Đề mở thực chất là đề bài theo hướng vận dụng kiến thức đã học vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Trước mỗi đề bài, học sinh căn cứ vào khả năng phát hiện vấn đề, khả năng huy động những kiến thức đã học (bao gồm kiến thức tiếng Việt, đọc văn, làm văn, kiến thức liên môn), khả năng vận dụng ngôn ngữ để trình bày, lý giải vấn đề theo chính kiến của mình.
Với hướng ra đề như thế, để có được những bài viết thuyết phục, ngoài những kiến thức đã học trong chương trình, sách giáo khoa, đáp ứng yêu cầu chuẩn kiến thức - kỹ năng - thái độ, giáo viên cần khuyến khích học sinh tích lũy những hiểu biết mang tính xã hội, cập nhật những vấn đề mang tính thời sự.
Như vậy, đề Văn mở phải mở cả nội dung, tư tưởng và cấu trúc. Không bó buộc vấn đề hỏi trong những tác phẩm văn học trong nhà trường, đề mở hướng đến cả những vấn đề trong thực tiễn, mang tính thời sự, tính ứng dụng cao. Trước những vấn đề đó, người viết được phép thể hiện chính kiến và những sáng tạo riêng, mang tính cá nhân.
Nhưng, đó tuyệt nhiên không phải là những phát ngôn lập dị, những tư tưởng phản động, những ý kiến đi ngược lại quan điểm, đường lối của Đảng và nhà nước, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của người Việt Nam, không phù hợp với đặc trưng tâm lý, lứa tuổi của người viết. Đề mở chấp nhận “cái khác” nhưng không dung hòa với “cái trái”, cái đối lập.
Dù còn phải cân nhắc, điều chỉnh cho phù hợp với định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, mục tiêu của môn Ngữ văn trong nhà trường ngoài việc cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ (trọng tâm là tiếng Việt) và văn học (trọng tâm là văn học Việt Nam), phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; hình thành và phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt, tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mĩ còn tập trung bồi dưỡng tinh thần, tình cảm như tình yêu tiếng Việt, yêu thiên nhiên, gia đình, lòng tự hào dân tộc…
Với chức năng giao tiếp, giáo dục, thẩm mỹ… văn học nói chung và văn học trong nhà trường nói riêng có nhiều thuận lợi trong việc hình thành và phát triển các năng lực chung cũng như góp phần bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và các phẩm chất cao đẹp của người học, “học văn là học cách làm người”. 
Vì thế, dù mở theo hướng nào, dù mở đến mức nào, đề Văn vẫn hướng đến những giá trị muôn đời, nhân bản, nhân văn nhất.
Đề văn mở bao giờ cũng hay, hấp dẫn, kích thích được hứng thú của học sinh, nhưng nói như PGS.TS Đỗ Ngọc Thống, dù “mới mẻ”, “khác lạ”, “mở” đến đâu vãn phải đảm bảo “sự chính xác, tính khoa học, tính thẩm mỹ và yêu cầu giáo dục tư tưởng cho thế hệ trẻ”. 
Đó là những chuẩn mực để theo đó, chúng ta sẽ không bắt gặp những đề văn “vừa yếu về chuyên môn vừa thô tục” (theo GS Nguyễn Minh Thuyết), “mắc sai lầm nghiêm trọng” (theo PGS.TS Văn Giá) như đề thi của Đại học FPT.
Môn Ngữ văn bao gồm 3 phân môn: văn học, tiếng Việt, làm văn. Cả ba phân môn này đều hướng tới việc hình thành và phát triển năng lực đọc hiểu và tạo lập văn bản. 
Nếu lấy chuẩn đầu ra này làm thước đo để kiểm tra, đánh giá trong môn Ngữ văn, thiết nghĩ, không nhất thiết phải đặt mệnh lệnh trong câu hỏi môn Ngữ văn: Hãy phân tích, hãy chứng minh,…
Đề thi môn Ngữ văn không cần thiết phải lặp đi lặp lại theo cấu trúc 2 phần: Phần chung – phần bắt buộc và phần tự chọn và nội dung không nhất thiết gồm 3 câu: tái hiện kiến thức, nghị luận xã hội và nghị luận văn học. 
Cá nhân người viết cho rằng, đổi mới đề thi môn Ngữ văn theo cấu trúc 2 phần đọc hiểu và làm văn là hợp lý. Với phần đọc hiểu, có thể tham khảo cách ra đề thi sau của Nhật Bản (trích theo tài liệu của PISA Việt Nam):
Hai lá thư sau được lấy từ Internet nói về graffiti. Graffiti là nghệ thuật vẽ và viết không cho phép lên tường hoặc nhiều vị trí khác. Tham khảo các lá thư để trả lời các câu hỏi sau:

Tôi đang vô cùng tức giận vì cứ phải tẩy sạch bức tường của trường rồi sơn lại nó tới lần thứ tư sau mỗi lần bị vẽ graffiti. Tính sáng tạo thật sự rất đáng ngưỡng mộ nhưng mọi người cần phải tìm cách để thể hiện bản thân họ mà không gây ra những chi phí phụ trội xã hội.
Tại sao bạn lại phá hỏng uy tín của giới trẻ bằng cách vẽ những bức graffiti lên những nơi nó bị cấm? Những người nghệ sĩ chuyên nghiệp có trưng những bức tranh của họ trên phố không? Thay vào đó, họ tìm kiếm những nhà tài trợ và thu được danh tiếng qua những cuộc trưng bày hợp pháp.
Theo quan điểm của tôi, các tòa nhà, hàng rào và ghế công viên, tự bản thân chúng đã là những tác phẩm nghệ thuật rồi. Thật là thảm hại khi phá hỏng những kiến trúc đó với graffiti và còn gì nữa, đó quả là một hình thức phá hủy tầng ô–zôn. Thật tình, tôi không thể hiểu nổi tại sao những tên tội phạm nghệ thuật đó lại có thể thấy khó chịu khi “những tác phẩm nghệ thuật” của chúng bị xóa đi khỏi tầm nhìn hết lần này sang lần khác.
Helga
Không có lí giải nào đối với khiếu thẩm mĩ. Xã hội có quá nhiều các phương tiện giao tiếp và quảng cáo. Những lô–gô công ty, tên tuổi các cửa hàng. Chúng có được chấp nhận không? Hầu hết là có. Graffiti có được chấp nhận không? Một số ý kiến cho rằng có, một số thì không.
Ai trả giá cho graffiti? Ai là người cuối cùng phải trả giá cho quảng cáo? Chính xác là người tiêu dùng.
Những người dựng nên những bảng quảng cáo có hỏi ý kiến của bạn không? Không. Vậy những người vẽ graffiti có cần phải làm như vậy không? Không phải tất cả chỉ là câu hỏi về sự giao tiếp – tên của bạn, tên của các nhóm và những công trình nghệ thuật lớn trên phố?
Hãy nghĩ tới những bộ quần áo kẻ sọc và kẻ ca–rô xuất hiện trong các cửa hiệu một vài năm trước. Cả đồ trượt tuyết. Các mẫu và màu sắc đều được lấy trực tiếp từ những bức tường bê tông hoa. Thật thú vị là các mẫu và màu sắc này đều được chấp nhận và yêu thích nhưng graffiti có cùng phong cách như vậy thì lại được xem là đáng sợ.
Hiện tại thật là khó khăn đối với nghệ thuật.
Sophia
(Nguồn: Marl Hankala)
Câu hỏi 1: Mục đích của mỗi lá thư trên là:
A. giải thích graffiti là gì.
B. đưa ra một ý kiến về graffiti.
C. chứng minh sự phổ biến của graffiti.
D. cho mọi người biết phải tốn kém như thế nào để tẩy xoá graffiti.

Câu hỏi 2: Tại sao Sôphia lại đề cập tới quảng cáo?
..........................................................................................................
Câu hỏi 3:
Em đồng ý với người viết lá thư nào? Hãy giải thích câu trả lời của em bằngchính ngôn ngữ của mình để đề cập tới những gì được nêu lên trong một hoặc cả hai bức thư.
...........................................................................................................
Câu hỏi 4:
Chúng ta có thể nói về những gì lá thư nói đến (nội dung).
Chúng ta có thể nói về cách thức lá thư được viết (văn phong).
Không đề cập tới việc em đồng thuận với lá thư nào, theo ý kiến của em, lá thư nào tốt hơn?
Hãy giải thích câu trả lời của em về cách thức của một hoặc cả hai lá thư được viết./.
      
Đề mở đòi hỏi hướng dẫn chấm mở. Theo đó, người viết có khoảng trống để đánh giá đúng mức những sáng tạo riêng, những đóng góp riêng của mỗi học sinh khi giải quyết vấn đề đặt ra trong đề bài. 
Để đánh giá chính xác, khách quan, công bằng, khi chấm bài, giáo viên cũng cần linh hoạt. Sẽ không thể tồn tại kiểu đếm ý cho điểm, hoặc tuân thủ cứng nhắc một phương án trả lời. Chấp nhận hơn một phương án trả lời hợp lý để kích thích sự sáng tạo của học sinh cũng là một thay đổi đáng lưu ý.
Với câu hỏi đọc hiểu như trên, hướng dẫn chấm cụ thể được mã hóa như sau :
Hướng dẫn mã hóa câu hỏi 1:
Mức đầy đủ: B. Đưa ra một ý kiến về graffiti.
Không đạt: Các câu trả lời khác hoặc không trả lời.            
Hướng dẫn mã hóa câu hỏi 2:
Mức đầy đủ: Nhận ra rằng đang rút ra một sự so sánh giữa graffiti và quảng cáo. Câu trả lời nhất quán với ý nghĩ rằng quảng cáo là một hình thức hợp pháp của graffiti.
+ Để cho chúng ta thấy rằng quảng cáo có thể mang tính xâm phạm như graffiti.
+ Bởi vì một số người nghĩ rằng quảng cáo cũng xấu xí, là cách vẽ phun mực.
+ Cô ấy đang nói rằng quảng cáo chỉ là một hình thức hợp pháp của graffiti.
+ Cô ấy cho rằng quảng cáo cũng giống với graffiti.
+ Bởi vì họ không cần sự cho phép của bạn để dựng các bảng quảng cáo.[ngầm so sánh giữa quảng cáo và graffiti].
+ Bởi vì nó là một hình thức trưng bày khác.
+ Bởi vì những người quảng cáo dán các tấm bảng quảng cáo lên tường và cô ấy cho rằng graffiti cũng thế.
+ Vì nó cũng nằm trên tường.
+ Bởi vì trông chúng cũng xấu hoặc đẹp như nhau mà thôi.
+ Cô ấy đề cập tới quảng cáo vì nó được chấp nhận không như graffiti [Sự tương đồng của graffiti và quảng cáo được ngầm nhắc tới bằng cách đưa ra những thái độ đối lập giữa hai thứ đó].
– Nhận ra rằng đề cập tới quảng cáo là một cách thức để bảo vệ graffiti.
+ Để chúng ta có thể thấy được rằng thật ra thì graffiti cũng hợp pháp.
Không đạt: 
- Đưa ra câu trả lời chưa đầy đủ hoặc mơ hồ:
+ Đó là một cách nêu lên quan điểm của cô ấy.
+ Vì cô ấy muốn thế, cô ấy đề cập tới nó như là một ví dụ.
+ Đó là một cách thức/chiến lược.
+ Các lô–gô của công ty và tên các cửa hiệu.
– Chỉ ra ý hiểu không chính xác đối với tài liệu hoặc đưa ra một câu trả lời không hợp lí hoặc lạc đề.
+ Cô ấy mô tả về graffiti.
+ Bởi vì mọi người vẽ graffiti lên chúng.
+ Graffiti là một loại hình quảng cáo.
+ Bởi vì graffiti là quảng cáo đối với một người hoặc nhóm người nào đó. [So sánh sai hướng tức là gfraffiti là một dạng của quảng cáo]
Không trả lời.        
Hướng dẫn mã hóa câu hỏi 3:
Mức đầy đủ: Giải thích quan điểm bằng cách tham khảo tới nội dung của một hoặc cả hai lá thư. Có thể đề cập tới vị trí chung của người viết (nghĩa là ủng hộ hoặc phản đối) hoặc một chi tiết trong lập luận của cô ấy. 
Diễn giải lập luận của người viết phải phù hợp. Lời giải thích có thể là một cách thức diễn giải khác một phần văn bản nhưng không phải là toàn bộ hoặc chép lại mà không thêm thắt hoặc thay đổi gì:
+ Em đồng ý với Helga. Graffiti là bất hợp pháp và phá hoại các công trình công cộng.
+ Helga bởi vì em phản đối graffiti [Câu trả lời tối giản].
+ Sophia. Em nghĩ thật là một sự đạo đức giả đối với các nghệ sĩ graffiti khi sản sinh ra hàng triệu sao chép từ thiết kế của họ.
+ Em phần nào đồng ý với cả hai. Sẽ không hợp pháp khi vẽ lên tường ở nơi công cộng nhưng những người này vẫn nên được có cơ hội thực hiện những ý tưởng của họ ở một nơi nào đó.
+ Sophia, bởi vì cô ấy quan tâm tới nghệ thuật.
+ Em đồng ý với cả hai. Graffiti là xấu nhưng quảng cáo cũng vậy vì thế em không muốn trở thành đạo đức giả.
+ Helga, bởi vì em không thực sự thích graffiti cho lắm nhưng em hiểu rằng quan điểm của Sophia và vì sao cô ấy không muốn buộc tội những người làm việc mà họ tin tưởng vào đó.
+ Helga, bởi vì thật đáng tiếc khi hủy hoại uy tín của giới trẻ chẳng để làm gì cả. [Trường hợp ở ranh giới: một cách trích dẫn trực tiếp nhưng đính vào đoạn văn khác].
+ Sophia, đúng là các mẫu và màu sắc được đánh cắp từ graffiti xuất hiện trong các của hiệu và được mọi người chấp nhận, trong khi họ lại xem graffiti là đáng sợ. [Lời giải thích là một cách kết hợp của việc diễn giải bằng cách khác, nhưng vận dụng chỉ ra rằng nó đã được hiểu chính xác].
Không đạt:
– Ủng hộ cả hai quan điểm nhưng lại chỉ giới hạn trong những trích dẫn trực tiếp (có hoặc không có dấu trích dẫn).
+ Helga bởi vì em đồng ý rằng mọi người cũng nên tìm cách khẳng định bản thân mình bằng cách không gây nên các phụ trội xã hội.
+ Helga. Tại sao lại hủy hoại uy tín của giới trẻ?
– Đưa ra câu trả lời không đầy đủ hoặc mơ hồ.
+ Sophia, bởi vì em nghĩ rằng lá thư của Helga không ủng hộ lập luận của cô ấy với nhiều lí do (Sophia so sánh lập luận của cô ấy với quảng cáo v.v). [Các câu trả lời về phong cách hoặc chất lượng của lập luận].
+ Helga, bởi vì cô ấy sử dụng nhiều chi tiết hơn. [Các câu trả lời về phong cách hoặc chất lượng của lập luận].
+ Em đồng ý với Helga [Thiếu ý kiến bảo vệ cho ý kiến này].
+ Cả hai, bởi vì em có thể hiểu được Helga đến từ đâu. Nhưng Sophia  cũng đúng. [Thiếu ý kiến bảo vệ cho ý kiến này]
– Đưa ra ý hiểu không chính xác đối với tài liệu hoặc đưa ra câu trả lời không hợp lí hoặc không chính xác:
+ Em đồng ý với Helga hơn. Sophia có vẻ như là không chắc với những suy nghĩ của cô ấy.
+ Helga, bởi vì cô ấy cho rằng một số người có tài năng. [Diễn giải nhầm ý kiến lập luận của Helga].
– Không trả lời.
Hướng dẫn mã hóa câu hỏi 4 :
Mức đầy đủ: Giải thích ý kiến đề cập tới văn phong hoặc mẫu của một hoặc cả hai lá thư. Nhắc tới tiêu chuẩn như văn phong, cấu trúc của lập luận, tính thuyết phục của lập luận, giọng điệu, cách tiếp cận, chiến lược để thuyết phục được người xem. Phải chứng minh được cụm từ “các lập luận tốt hơn”:
+ Lá thư của Helga. Cô ấy đưa ra rất nhiều điểm khác nhau để cân nhắc và đề cập đến những tổn hại mà các nghệ sĩ graffiti gây ra mà em cho rằng rất quan trọng.
+ Lá thư của Helga rất có hiệu quả theo cách thức cô ấy chỉ ra trực tiếp các nghệ sĩ graffiti.
+ Em nghĩ rằng lá thư của Helga thì tốt hơn. Em thấy lá thư của Sophia có phần thiên vị.
+ Em nghĩ rằng Sophia đưa ra một lập luận rất vững chắc nhưng cấu trúc của Helga thì tốt hơn.
+ Sophia, bởi vì cô ấy không hướng tới bất kì một ai. [Giải thích lựa chọn của em đó về chất lượng của nội dung. Giải thích dễ hiểu khi dùng từ “Không có ý chống lại ai cả”].
+ Em thích lá thư của Helga. Cô ấy hoàn toàn làm chủ được việc nêu rõ ý kiến của mình.
Không đạt:
– Đánh giá về mặt đồng thuận hoặc không đồng thuận với vị trí của người viết, hoặc chỉ là diễn đạt nội dung theo cách khác:
+ Helga. Em đồng ý với mọi điều cô ấy nói.
+ Lá thư của Helga tốt hơn. Đúng như cô ấy nói, graffiti quá tốn kém và phí phạm.
– Đánh giá không đưa ra lời giải thích hợp lí:
+ Lá thư của Sophia là lá thư tốt nhất.
+ Lá thư của Sophia dễ đọc hơn.
+ Helga có một lập luận tốt hơn.
– Chỉ ra ý hiểu không chính xác về nội dung tư liệu và đưa ra câu trả lời không phù hợp hoặc lạc đề:
+ Lá thư của Helga được viết tốt hơn. Cô ấy từng bước giải quyết các vấn đề và sau đó dựa trên cơ sở đó, đưa ra lời kết hợp lí.
+ Sophia, bởi vì cô ấy giữ đúng vị trí của mình từ đầu đến hết lá thư.
– Không trả lời
Đối với câu hỏi đọc hiểu, văn bản nên lựa chọn là những văn bản ngắn, có giá trị đích thực cả về tư tưởng và văn phong, nằm ngoài chương trình, sách giáo khoa. 
Bởi lẽ, văn bản trong chương trình quá hữu hạn so với số lượng tác phẩm khổng lồ mà học sinh sẽ tiếp xúc. Như thế sẽ tránh được việc luyện thi, học lệch, học tủ, ghi nhớ máy móc những kiến thức đã được học.
Và như thế, sẽ không còn chuyện học sinh trả bài tốt, viết được những bài văn được điểm cao nhưng lại rất ngu ngơ khi đọc và viết những văn bản nhật dụng như: tờ hướng dẫn sử dụng thuốc, tấm vé xe buýt…
Sẽ không còn chuyện say mê những văn hóa phẩm “đồi trụy”, những truyện tranh đầy rẫy những cảnh đấm đá, thụi bịch, những lời lẽ vô văn hóa…
Câu hỏi phần làm văn cũng nên thay đổi cách hỏi truyền thống: Hãy phân tích, hãy chứng minh như trên đã nói. Câu hỏi không đánh đố học sinh mà gồm các phần:  phần nêu vấn đề, phần nêu những gợi ý, hướng dẫn cần thiết để học sinh làm bài, phần kiểm tra bài viết. Có thể tham khảo cách ra đề văn học sau của Hoa Kỳ (Trích theo Đề Văn và việc rèn luyện năng lực viết sáng tạo – PGS.TS Đỗ Ngọc Thống):
“Chọn một truyện bạn đã đọc trong năm nay. Tìm một sự kiện trong truyện và viết bài văn tự thuật về sự vật này theo quan điểm của nhân vật trong đó. Bài tự thuật của bạn cần chỉ ra tại so sự kiện này lại có ý nghĩa với nhân vật (người kể).
Gợi ý:
 - Lý lẽ về chăn màn trong “Vật sử dụng hàng ngày”.
 - Johnny đang hỏi khi Mattie ở ngoài trong tác phẩm “Vật sử dụng hàng ngày””.
 Với đề hiện thực, có thể tham khảo đề thi sau:
 “Hãy viết một câu chuyện tự kể về một kinh nghiệm quan trọng đã trải qua.
 Gợi ý:
 - Một sự kiện buồn cười, kinh hoàng hoặc buồn bã trong tuổi thơ của bạn.
- Một thời điểm quyết định trong cuộc đời bạn.”
Theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, việc kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn đang có những chuyển biến tích cực, góp phần đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo.
Trong xu hướng chung chuyển đổi từ đánh giá kiến thức kỹ năng sang đánh giá năng lực, đánh giá để xếp loại sang đánh giá để phát triển học tập, từ đánh giá một chiều sang đánh giá đa chiều, đổi mới cách ra đề - đề mở được xem là “mắt xích trọng yếu” (Chữ dùng của PGS.TS Đỗ Ngọc Thống).
Hi vọng, với cách làm đó, môn Ngữ văn sẽ giữ được vị thế “số một” trong trường phổ thông, sẽ có thêm nhiều học sinh yêu Văn, say Văn và giỏi Văn.
Phùng Thị Vân Anh (Vụ GDTX)

Thi TN THPT 2014: Một số đề theo hướng Đọc hiểu - Làm văn

Xin giới thiệu một số đề Văn tham khảo theo cấu trúc Đọc - hiểu và Làm văn theo hướng "mở" để kiểm tra năng lực tư duy, tạo lập văn bản, khả năng giải quyết vấn đề, trình bày quan điểm của HS... theo hướng dẫn của BGD về đội mới cách ra đề thi tốt nghiệp THPT năm 2014
I. Đọc hiều văn bản


II. Làm văn
Các dạng đề tương tự như câu NLXH trước đây ( câu 3 điểm)
Các dạng đề tương tự như  câu NLVH như trước đây ( câu 5 điểm)
C.  Đề TÍCH HỢP NLVH VÀ NLXH  hoặc tích hợp kiến thức liên môn TRONG 1 ĐỀ
Đề 1: Cuộc sống như thế nào nếu thiếu thơ ca?
Đề 2: Viết về một nhân vật trong tác phẩm văn học mà anh (chị) yếu mến nhất.
Đề 3: Biểu trưng văn hóa Hà Nội trong "Một người Hà Nội" của Nguyễn Khải.
Đề 4: Chất hiện thực và nhân văn trong "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu.
Đề 5: Ngôn ngữ thơ Việt Nam rất giàu nhạc tính. Anh (chị) hãy làm sáng tỏ điều đó qua một đoạn thơ tự chọn.
Đề 6: 
Giả sử trong những ngày tháng 5 lịch sử, tại mảnh đất Điện Biên hôm nay anh, chị được gặp một người anh hùng trong chiến dịch Điện Biên năm xưa... Anh, chị và người ấy sẽ nói với nhau chuyện gì? Đi thăm những nơi nào? Hãy ghi lại điều đó và phát biểu những suy nghĩ, cảm xúc của mình sau cuộc gặp gỡ ấy.
-----------------------------------------
Tiếp tục cập nhật.....
----------------------------------------------------------
Xem thêm:

Nhận định đề thi sau chấm thi ĐH 2013

Đề văn mở, thí sinh... theo không kịp
TT - Đánh giá đề thi môn văn khối C, D đều giúp thí sinh có cơ hội bày tỏ tư duy, cách nghĩ, sự sáng tạo của mình nhưng nhiều giám khảo cũng cho rằng phần đông thí sinh chưa đáp ứng được yêu cầu “mở” của đề.

Cô Nguyễn Thị Hồng Thắm - một cán bộ chấm thi tại Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội - cho hay dù đề văn ra theo hướng mở, cả câu nghị luận xã hội và nghị luận văn học đều yêu cầu kỹ năng rất nhiều, nhưng phần đông thí sinh lại chỉ tập trung vào... kiến thức.
Đề hay nhưng điểm thấp
Viết thư ở nghị luận xã hội
Một điều đáng lưu ý tại nhiều hội đồng chấm thi môn văn khối D năm nay là rất nhiều thí sinh đã chọn hình thức viết thư cho bài văn nghị luận xã hội, thể hiện tính đối thoại với nhân vật được trích dẫn ý kiến trong đề bài. Thí sinh đã viết một lá thư: “Kính gửi anh John. Tôi là người Việt Nam. Tôi sống ở Việt Nam và có đọc cuốn sách của anh. Trong sách, anh có nhận định như thế này... (dẫn đề thi). Tôi hoàn toàn không đồng ý với anh”. Thầy Nguyễn Ngọc Minh Tuấn cho rằng cách làm bài như thí sinh này vẫn được chấp nhận theo hướng dẫn chấm của Bộ GD-ĐT.
Cô Thắm nói: “Tinh thần của giáo viên chấm thi vẫn là “gạn đục, khơi trong”. Ở câu nghị luận văn học, đa số thí sinh chỉ trình bày kiến thức, phân tích trên nền tảng tác phẩm, không thể hiện được kỹ năng làm bài nghị luận một cách chặt chẽ. Gặp những bài có kỹ năng tốt, bài thi sẽ được cộng điểm”.
Sau khi hoàn thành chấm tổng cộng gần 10.000 bài thi môn văn tại Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội, nhiều giáo viên khẳng định điểm thi của thí sinh năm nay thấp hơn dù đề rất hay. “Cách ra đề mở đòi hỏi tư duy cá nhân rõ nét, nhưng vì nhiều em vẫn quen luyện “lò”, vẫn chú trọng tác phẩm nên không làm ra “chất” của bài nghị luận mở”- cô Thắm phân tích.
Tuy nhiên, là một giáo viên văn THPT (Trường THPT Tân Lập, Đan Phượng, Hà Nội), cô Thắm thừa nhận việc thí sinh chưa thật sự thể hiện được tư duy làm văn nghị luận theo đề mở một phần nguyên nhân rất lớn từ chính chương trình học trong nhà trường.
“Thật sự, chương trình văn học lớp 12 rất nặng. Giáo viên phải dạy đầy đủ các tác phẩm, tức trang bị đủ kiến thức cho học trò nên rất ít thời gian để rèn kỹ năng. Qua đề văn năm nay, chính giáo viên chúng tôi sẽ phải tự nhìn lại cách dạy của mình, cần tăng cường rèn kỹ năng nhiều hơn” - cô Thắm chia sẻ.
Tuy nhiên, theo nhiều giáo viên chấm thi, đáp án khối D cũng “mở” hơn hẳn so với khối C khi phần trao đổi lại ý kiến với Tran Hung John - người đưa ra nhận định - theo ý đồng tình, không đồng tình hoặc đồng tình một phần đều có thể đạt điểm tối đa nếu có lý lẽ, có căn cứ xác đáng và thái độ bàn luận nghiêm túc. Trong khi đó, ở đề văn khối C, câu nghị luận xã hội lại ấn định rất rõ ràng thí sinh trình bày được mặt tiêu cực trong lối sống truyền thống vốn đề cao sự khôn khéo hơn trí tuệ sẽ đạt 1 điểm, còn phần trình bày mặt tích cực chỉ đạt 0,5 điểm.
Vẫn còn “bó buộc”
Nhiều giảng viên cho rằng đề văn khối C có phần hơi “đánh bẫy” học sinh vì cách ra đề khiến nhiều học sinh lầm tưởng đây là nhận định chung về lối sống của người Việt truyền thống.
“Điều này dẫn đến hiện tượng nhiều học sinh hoặc thiên hẳn về việc ca ngợi hoặc ngược lại, bày tỏ sự phê phán kịch liệt đối với ý kiến của GS Trần Đình Hượu. Nếu đề “chêm” được một ý “khi nhận xét về một mặt khá hạn chế của lối sống người Việt truyền thống, nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu cho rằng...” thì giúp học sinh định hướng đề và làm bài tốt hơn. Vì thực tế người ra đề muốn mượn câu nói của nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu để nêu hạn chế của văn hóa người Việt xưa khi đặt cao sự khôn khéo, trong khi chính trí tuệ mới là yếu tố thúc đẩy sự phát triển” - PGS Ngô Văn Giá, tổ trưởng tổ chấm văn hội đồng chấm thi Trường ĐH Văn hóa Hà Nội, nhận xét.
Theo PGS Giá, phần đông thí sinh vẫn nghiêng về tái hiện kiến thức, chưa thật sự có tư duy biện luận thuyết phục. “Ngoài cảm thụ tinh tế, văn học còn cần những kiến giải sắc sảo. Chỉ khép trong văn chương cùng những tác phẩm của chương trình, góc nhìn của bài làm sẽ rất hẹp. Do đó, không chỉ học sinh mà cả giáo viên dạy phổ thông, từ những đề thi này cần nâng cao hơn nữa kỹ năng tổng hợp, các thao tác so sánh, khái quát” - PGS Giá nói.
Sau quá trình chấm thi, PGS.TS Đoàn Lê Giang - tổ trưởng tổ chấm thi môn văn Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM) - nhận định đáp án môn văn của Bộ GD-ĐT “vẫn còn bó buộc lắm”.
Ông Giang cho rằng đề mở, nhưng đáp án có vẻ trả lời thay và hướng thí sinh theo cách nghĩ của ban ra đề. “Chẳng hạn câu 3a khối D bàn về bài thơ Vội vàng của thi sĩ Xuân Diệu - ông Giang dẫn chứng - Có ý kiến nói rằng đó là cái tôi vị kỷ tiêu cực, ý kiến khác cho rằng đó là tiếng nói của cái tôi cá nhân tích cực. Đáp án cho rằng cái tôi vị kỷ là sai, cái tôi cá nhân tích cực mới đúng. Nhưng cũng có người không nghĩ thế. Họ vẫn nghĩ bài đó thể hiện cái tôi vị kỷ. Cách nghĩ này vẫn có thể chấp nhận được nếu lập luận hợp lý. Trước đây, nhà phê bình văn học Hoài Thanh từng nói bài thơ này là bài về tự kỷ. Do đó, tôi nghĩ vẫn phải chấm cả những ý như vậy chứ không nhất thiết phải theo đáp án của Bộ GD-ĐT”.
Điểm cao nhất: 9,5
Trường ĐH KHXH&NV (ĐHQG TP.HCM) đã chấm xong hơn 10.000 bài thi môn văn khối C, D của thí sinh dự thi vào trường, tuy nhiên vẫn “chưa có bài nào đạt điểm 9 - PGS.TS Đoàn Lê Giang thông tin - bài cao nhất được 8,5 điểm, phổ điểm tập trung nhiều nhất vào 5-6”.
Với tình hình điểm thi như trên, TS Giang nhận định đề thi môn văn năm nay hơi khó so với thí sinh, nhất là ở câu nghị luận xã hội. “Vấn đề hơi lớn so với trình độ thí sinh - TS Giang bình luận - Không có thí sinh nào làm được xuất sắc câu nghị luận xã hội. Thí sinh thường nghĩ đến những chuyện gần gần thôi chứ chưa nghĩ đến chuyện đặc tính, nhược điểm của dân tộc. Thường thì các học giả, những người đi ra nước ngoài nhiều mới nghĩ nước mình như thế nào. Thí sinh thi vào trường phần nhiều từ nông thôn. Thành ra rất ít em làm xuất sắc câu này...”.
Trong khi đó, thầy Nguyễn Ngọc Minh Tuấn, giáo viên môn văn Trường THPT Trưng Vương, tổ trưởng tổ chấm thi môn văn Trường ĐH Tài chính - marketing, cho biết trong tổng số 6.200 bài thi môn văn khối D đã chấm chỉ có một, hai bài đạt điểm 8,25 là cao nhất. “Điểm thi tập trung vào phổ 5, 6 - thầy Tuấn nói - Mặt bằng điểm thi năm nay cao hơn so với mọi năm. Điểm thi cao là nhờ câu nghị luận xã hội chứ nghị luận văn học quá lạ so với thí sinh. Có thí sinh được cho 2,75 điểm ở câu nghị luận xã hội”.
ThS Ngô Đức Tuấn - trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Luật TP.HCM - cho biết trường có một bài thi môn văn khối C đạt 9,5 điểm. “Phổ điểm còn lại chủ yếu ở mức 5-6 điểm” - ông Tuấn nói thêm.
HÀ BÌNH - NGỌC HÀ

“Thôi em đành bó tay...”
Nhiều giám khảo đã dở khóc dở cười với những câu “bình lựng”, những “bài thơ” thí sinh sáng tác trong quá trình làm bài thi môn văn. Tại hội đồng thi Trường ĐH Mở TP.HCM, một thí sinh “tức cảnh” trên bài thi: “Một mùa xuân nho nhỏ/Tài liệu ở đâu đây/Thôi em đành bó tay/Mong thầy cô thông cảm”. Còn tại hội đồng thi Trường ĐH Nông lâm TP.HCM, một giám khảo chấm thi kể thí sinh trong câu 3b khối D đã... mở đầu như sau: “Tác giả Nguyễn Minh Châu là ai, tui không biết. Tại vì thi đại học nên tui phải làm bài này”. Cũng tại hội đồng thi này, một thí sinh thể hiện sự “bó tay” rằng: “Người đã chết thì không biết. Không biết thì tui không có viết”...
NHƯ HÙNG

Nhận định đề thi Văn ĐH 2013

thanhnien online ngày 10.07.2013
- Tải về Đề thi và Gợi ý giải đề thi đại học môn Văn khối C năm 2013:  bản word /  bản PDF
- Tải về Đề thi và Gợi ý giải đề thi đại học môn Văn khối D năm 2013:  bản word /  bản PDF
Cô Lý Thị Tú Anh, giáo viên môn văn, Trường THPT Vĩnh Viễn:
Đề văn kích thích sự hứng thú làm bài của thí sinh
Đề thi văn khối C và D, ở tất cả các câu đều đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức đã học, cho dù là câu hỏi giáo khoa, tránh được việc học thuộc lòng.
Với đề văn khối C, câu 1 rất rõ ràng từng phần để học sinh trả lời. Học sinh nào nghe giảng bài, có kiến thức suy luận thì chắc chắn sẽ làm được ngay.
Câu 2, không khó với học sinh vì nội dung phù hợp với lối sống của người VN truyền thống và ý kiến nhận xét trong đề phủ định, khẳng định rất rõ để học sinh làm bài.
Câu 3a, 3b có dạng ra đề không mới. Câu hỏi tổng hợp từ nhiều ý kiến để học sinh bình luận về những ý kiến này. Qua đó, học sinh có cái nhìn rộng, ở nhiều góc độ để có thể được thể hiện ý kiến phong phú của mình.
Đề văn khối D cũng không khó nhưng với điều kiện là học sinh phải vận dụng kiến thức để làm bài.
Câu 1 cho một cách nhìn và từ đó học sinh nêu ý về con sông Đà.
Đặc biệt, nếu như câu 2 đề thi khối C là quan điểm về văn hóa, lối sống truyền thống của người VN thì ở đề thi khối D lại là nhận xét về người VN qua ý kiến của một Việt kiều. Cách chọn lựa ý kiến để đưa vào đề thi như vậy rất phù hợp với mỗi khối.
Đây là dạng viết bài văn một cách đối thoại với người có ý kiến trong đề, qua đó nhìn lại chính mình để mình đi tới. Cách ra đề như vậy đã bỏ đi cách dạy, học và làm bài từ chương.
Câu 3a, 3b cho hai ý kiến, một ý kiến sai, một ý kiến đúng để học sinh chọn lựa và bình luận.
Đề văn thi ĐH năm nay ở cả khối C và D đều rất hay, tạo sự kích thích hứng thú làm bài của học sinh. Đề thi này để học sinh chủ động làm bài theo cảm nhận của mình chứ không phải theo kiến thức của giáo viên, học sinh có thể có mặt trong bài văn (Viên An ghi)
Cô Vũ Thị Thanh Tâm, giáo viên văn học, Trường Phổ thông Năng khiếu, ĐH Quốc gia TP.HCM:
Đề văn hay, lạ và thẳng thắn
Cả hai đề văn khối C và D đều có ý tưởng tương tự nhau.
Với câu 2 nghị luận xã hội ở đề văn khối C và khối D đều nói về tính cách của người Việt Nam, cụ thể là điểm xấu trong tính cách người Việt mà chúng ta thường gọi là “người Việt xấu xí”.
Đây là dạng đề lạ mà TS chưa gặp nhiều năm gần đây. Trước đây, đề văn khi phê phán thói xấu thường phê phán thói xấu của một nhóm người, thành phần nào đó trong xã hội. Nhưng với đề thi năm nay, đề lại phê phán tật xấu của người Việt Nam.
Đề thi đề cập đến tật xấu cố hữu của người Việt Nam nên tôi băn khoăn liệu các em có dám bày tỏ ý kiến riêng của bản thân hay không? Nếu các em có thể trình bày được ý kiến độc lập, thẳng thắn mới làm đạt được câu 2 nghị luận xã hội.
Cũng chính vì thế mà tôi chờ đợi hướng dẫn đáp án của Bộ GD-ĐT có thật sự cởi mở và nhìn nhận thẳng thắn vào nhược điểm của người Việt Nam hay không.
Lâu nay người Việt Nam vẫn tự hào là cần cù và sáng tạo nhưng theo nhìn nhận của một người Việt kiều (là cái nhìn khách quan của người nước ngoài theo đề thi khối D), hy vọng TS sẽ nêu được suy nghĩ riêng và giải pháp khắc phục những nhược điểm của người Việt dưới cái nhìn của người nước ngoài.
Với đề thi nghị luận xã hội ở khối C, học sinh phải nêu được: cách cư xử khéo léo đúng một phần nhưng nếu chỉ khôn khéo mà thiếu thông minh thì đất nước, xã hội sẽ khó có thể phát triển được.
Câu 1 của cả hai đề không có gì đánh đố với TS. Trong khi đó, câu số 3 lại đòi hỏi TS phải biết lập luận so sánh và lập luận bác bỏ. Đây là thao tác mà các em rất ít khi sử dụng ở bình luận văn học. Bấy lâu nay các em chỉ quen làm bài với thao tác lập luận phân tích và lập luận bình luận vì vậy câu này chỉ những em khá giỏi mới làm tốt.
Câu 3 ở 2 đề hay ở chỗ TS phải hiểu bài mới làm được, xóa bỏ được cách học thuộc lòng.
So với đề văn khối D, đề khối C có phần khó hơn, đặc biệt là câu 3b đòi hỏi so sánh.
Theo tôi, đề văn năm nay ra khá hay, lạ và rất thẳng thắn. (Minh Quyên ghi)
THÍ SINH NHẬN XÉT
Tại điểm thi Trường ĐH Kinh tế-Luật (ĐH Quốc gia TP.HCM), phần lớn TS đều cho rằng môn văn khối D có câu nghị luận xã hội khá hay, phản ánh đúng thực trạng.
“Mình thấy đề không khó lắm, câu 1 và 3 học kỹ xíu là làm được. Câu nghị luận xã hội mình thấy hay, phản ánh đúng thực trạng sống thụ động, theo lối mòn”, TS Lê Thị Thảo Nguyên (học sinh Trường THPT Buôn Hồ, Đắk Lắk, thi tốt nghiệp THPT môn văn đạt 7,5 điểm) cho biết.
Tại HĐT Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, nhiều TS hào hứng với câu nghị luận xã hội.
TS Hồ Minh Đạt, thi tại HĐT Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, phấn khởi: “Em đọc và chọn câu nghị luận xã hội làm trước, vì vấn đề thụ động này em cũng mắc phải nên có kinh nghiệm. Em học văn cũng trung bình nên em nghĩ 5 điểm văn ĐH cũng tốt rồi”.
TS Lê Thị Hoa, học sinh Trường THPT Ngô Gia Tự, Đắk Lắk, đánh giá đề thi văn khối D như thế là vừa với khả năng của em. Hoa nói: "Em vẫn thích làm câu nghị luận nhất vì nó bám sát thực tế, dễ làm, lời văn cũng không quá bay bổng".
Hoa cho biết mình làm được khoảng 6 điểm; điểm tốt nghiệp THPT môn văn của Hoa là 7,5. (Hữu Thành - Diễm Út)
* Tại Đà Nẵng: TS thi môn văn khối C và D sáng nay đều chung nhận xét là đề lạ, hiếm gặp khi ôn tập.
Theo TS Nguyễn Thị Thùy Trâm (học sinh Trường THPT Hòa Vang, Đà Nẵng, thi vào ngành Sư phạm tiểu học, ĐH Sư phạm Đà Nẵng), cho hay đề văn khối D chủ yếu hướng TS phát huy sự sáng tạo.
TS Huỳnh Thị Thùy Trang (học sinh Trường THPT Tôn Thất Tùng, Đà Nẵng, dự thi vào ĐH Sư phạm Đà Nẵng) nhận xét: Đề văn khối D không phải dễ làm. Đề rất lạ, đặc biệt là câu nghị luận xã hội, phải có cảm nhận, cảm thụ sâu sắc về tác phẩm mới làm bài tốt được.
TS Lê Thị Hàn Ni (học sinh Trường THPT Krong Bông, Đắk Lắk, thi vào khoa báo chí, Trường ĐH Sư phạm Đà Nẵng) rất hào hứng với đề văn khối C.
“Em xem thời sự và đọc báo, thấy Bộ GD-ĐT đã nói rất rõ là khuynh hướng ra đề theo hướng mở, nên khi bắt gặp đề thi này em không lấy làm ngạc nhiên mà rất hào hứng làm bài.
Hàn Ni cho biết đề văn này em làm khá tốt, phải đạt trên 8 điểm. (Diệu Hiền
"Đề văn khối C năm nay khó, đòi hỏi TS tư duy nhiều”, đó là nhận định chung của nhiều TS. Trong đó, câu nghị luận xã hội được nhận xét là khá hay và lạ.
TS Quách Văn Linh (học sinh Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai, Vũng Tàu, thi vào Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM) cho biết: “Đề văn đòi hỏi tư duy nhiều, như câu nghị luận xã hội TS phải nhận định một vấn đề xã hội thông qua một tác phẩm. Đề thi này sẽ dễ phân loại được TS”
TS Thúy Hằng (quê Bình Phước) cho rằng đề văn khối C khó và nằm ngoài dự đoán của em. Đề nghị luận xã hội đòi hỏi TS phải bám sát vào vấn đề được đề cập trong tác phẩm trích dẫn.
Hằng cho biết mình làm được khoảng 50% bài thi. (Bảo Ngọc)
*** Đồng hành cùng các thí sinh trong kỳ thi tuyển sinh ĐH-CĐ năm 2013, bên cạnh các bài gợi ý giải đề thi, Thanh Niên Online còn cập nhật những nhận xét nhanh về đề thi ngay sau khi môn thi kết thúc của các giáo viên giàu kinh nghiệm (những nhận xét này chỉ có tính chất tham khảo).

Trả lại giá trị môn Văn

TTO- 22.6.2013
Trả lại giá trị môn văn
Câu hỏi nghị luận xã hội trong đề thi văn kỳ thi tuyển sinh lớp 10 tại TP.HCM năm 2012 bàn đến “thế hệ gấu bông” - một loạt bài đã đăng trước đó trên báo Tuổi Trẻ. Câu chuyện người con hững hờ, vô cảm nhìn mẹ nhặt đồ đạc bị văng ra đường khi té xe cứ như chuyện ở đâu không liên quan tới mình, hay chuyện những cô cậu học trò rành rẽ sở thích, thời trang của thần tượng nhưng khi hỏi cha mẹ thích gì thì không biết cũng là những chi tiết không quá xa lạ trong cuộc sống hiện nay. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều thí sinh cho biết họ đã thay đổi cách sống, cách suy nghĩ, thay đổi cách cư xử với cha mẹ mình sau khi kỳ thi tuyển sinh kết thúc.
Theo một thành viên ban đề thi tuyển sinh vào lớp 10 của Hà Nội, ban đề thi đã cân nhắc tới sự phù hợp về hiểu biết xã hội và suy nghĩ của học sinh trình độ lớp 9 khi lần đầu tiên ra câu hỏi mở có liên hệ với thực tiễn đời sống. “Chương trình THCS đã học văn nghị luận xã hội và nhiều chủ đề quen thuộc mà học sinh vẫn được hướng dẫn liên hệ như lòng biết ơn, tình cảm gia đình, lý tưởng sống... Chủ quyền lãnh thổ và việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ lần đầu tiên đưa vào đề văn trong kỳ thi tuyển sinh lớp 10 nhưng cũng không xa lạ với học sinh THCS ở thủ đô, nơi các em được cập nhật thông tin xã hội đầy đủ. Hình ảnh người lính qua các thời kỳ kháng chiến, chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc cũng là hình ảnh quen thuộc không chỉ với học sinh THCS mà cả tiểu học” - thành viên của ban đề thi Hà Nội chia sẻ.
Một thành viên trong ban đề thi môn văn kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm 2012 ở TP.HCM thổ lộ: “Chủ trương của Sở GD-ĐT TP.HCM là sẽ ra những đề mang hơi thở cuộc sống, gần gũi với thí sinh, giáo dục thí sinh và đặc biệt là tạo điều kiện cho thí sinh được tự do bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của mình. Một vấn đề rất quan trọng nữa là đề thi ra theo hướng đổi mới còn nhằm mục đích triệt tiêu tình trạng học tủ, học vẹt, học theo văn mẫu vốn đang tồn tại từ những năm trước”.
H.HƯƠNG - L.TRANG - V.HÀ
Những đề thi mang hơi thở cuộc sống
* Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) bày tỏ suy nghĩ của anh/chị về hành động cứu người của học sinh Nguyễn Văn Nam từ thông tin sau:
Chiều 30-4-2013, bên bờ sông Lam, đoạn chảy qua xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, Nghệ An, Nguyễn Văn Nam, học sinh lớp 12T7 Trường THPT Đô Lương 1 nghe thấy tiếng kêu cứu có người đuối nước ở dưới sông, em liền chạy đến. Thấy một nhóm học sinh đang chới với dưới nước, Nam đã nhảy xuống, lần lượt cứu được ba học sinh lớp 9 và một học sinh lớp 6. Khi đẩy được em thứ năm vào bờ thì Nam đã kiệt sức và bị dòng nước cuốn trôi.
(Theo Khánh Hoan, thanhnienonline, ngày 6-5-2013)
(Trích đề thi môn ngữ văn,
kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2013)
* Mùa hè này, những học trò nghèo của làng chài bãi ngang xã Phổ Châu, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi ngày nào cũng xuống biển bắt cua, sò, ốc... để kiếm vài ngàn ít ỏi nuôi mơ ước đến trường. Từng giọt mồ hôi non nớt sớm rơi trên gành đá, hòa vào lòng biển vì ước mong có được bộ sách, cái cặp cho năm học mới. Đồng hành với khát khao của con trẻ, những người mẹ nghèo của vùng đất này cũng nói với con: “Ăn khổ mấy má cũng chịu, miễn con có sách vở, quần áo mới tới trường là má vui rồi!”.
(Theo báo Thanh Niên ngày 18-6-2013, “Ôm ước mơ đi về phía biển”)
Hãy viết bài văn ngắn khoảng một trang giấy thi trình bày suy nghĩ của em được gợi ra từ câu chuyện trên.
(Trích đề thi văn kỳ thi tuyển sinh lớp 10
tại TP.HCM ngày 21-6-2013)
* “Ngưỡng mộ thần tượng là một nét đẹp văn hóa, nhưng mê muội thần tượng là một thảm họa”. Hãy viết một bài văn ngắn khoảng 600 từ trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.
(Trích đề thi môn ngữ văn khối D,
kỳ thi tuyển sinh ĐH-CĐ năm 2012)
* Nick Vujicic, người Úc, sinh năm 1982, đã phải đối diện với hoàn cảnh vô cùng nghiệt ngã từ khi mới chào đời.
Tháng 5-2013, Nick đã đến Việt Nam. Mặc dù là một người không tay, không chân, anh trở thành một diễn giả nổi tiếng trên toàn thế giới. Bằng trái tim của mình, anh đã chạm đến trái tim của hàng triệu người. Hãy viết bài văn nghị luận bày tỏ suy nghĩ về những điều kỳ diệu của chàng trai đặc biệt này.
(Trích đề văn dự thi vào lớp 10
chuyên văn THPT của Hà Nội năm 2013)
* Trong loạt bài trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần bàn về “thế hệ gấu bông” có hai hiện tượng:
1. Một cô bé 15 tuổi được mẹ chở đi đánh cầu lông. Xe hai mẹ con bị va quẹt, đồ đạc trên xe văng tung tóe. Người mẹ vội vàng gom nhặt, vài người đi đường cũng dừng lại phụ giúp, còn cô bé thờ ơ đứng nhìn. Đợi mẹ nhặt xong mọi thứ, cô bé leo lên xe và thản nhiên dặn: “Lát về mẹ nhớ mua cho con ly chè”.
2. Một cậu học sinh khi được hỏi về ca sĩ nổi tiếng mà cậu hâm mộ, cậu đã trả lời rất rành mạch về cách ăn mặc, sở thích của ca sĩ đó. Nhưng khi hỏi về sở thích, nghề nghiệp của cha mẹ cậu, cậu ấp úng mãi không trả lời được.
Là người con trong gia đình, em hãy trình bày suy nghĩ về hiện tượng trên qua một bài văn ngắn (khoảng một trang giấy thi).
(Trích đề thi văn kỳ thi tuyển sinh lớp 10
tại TP.HCM năm 2012)