Đề gồm 3 câu, trong đó câu 3 nhiều điểm nhất (4), cũng khó nhất với việc trích đoạn trong truyên "Lặng lẽ Sa Pa" và yêu cầu thí sinh liên hệ một nhân vật trong tác phẩm khác, hoặc trong thực tế đời sống để thấy được sức trẻ Việt Nam.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mơ ước. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mơ ước. Hiển thị tất cả bài đăng
Đề thi và đáp án môn Văn tuyển sinh lớp 10 của TP HCM
TS10. TPHCM 2016-2017-Gợi ý của báo Thanh Niên
KÌ THI TUYỂN SINH LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Khóa ngày 11 tháng 06 năm 2016 tại TPHCM
Môn thi : VĂN
Thời gian: 120 phút (không tính thời gian giao đề)
ĐỀ CHÍNH THỨC
Câu 1: (3,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Năm tháng qua đi, bạn sẽ nhận ra rằng ước mơ không bao giờ biến mất. Kể cả những ước mơ rồ dại nhất trong lứa tuổi học trò – lứa tuổi bất ổn định nhất. Nếu bạn không theo đuổi nó, chắc chắn nó sẽ trở lại một lúc nào đó, day dứt trong bạn, thậm chí dằn vặt bạn mỗi ngày.
Nếu vậy, sao bạn không nghĩ đến điều này ngay từ bây giờ?
Sống một cuộc đời cũng giống như vẽ một bức tranh vậy. Nếu bạn nghĩ thật lâu về điều mình muốn vẽ, nếu bạn dự tính được càng nhiều màu sắc mà bạn muốn thể hiện, nếu bạn càng chắc chắn về chất liệu mà bạn sử dụng, thì bức tranh trong thực tế càng giống với hình dung của bạn. Bằng không có thể nó sẽ là những màu mà người khác thích, là bức tranh mà người khác ưng ý, chứ không phải bạn.
Đừng để ai đánh cắp ước mơ của bạn. Hãy tìm ra ước mơ cháy bỏng nhất của mình, nó đang nằm ở nơi sâu thẳm trong tim bạn đó, như một ngọn núi lửa đợi chờ được đánh thức…
(Theo Phạm Lữ Ân, Nếu biết trăm năm là hữu hạn, NXB Hội Nhà văn, 2012)
a. Tìm thành phần phụ chú trong văn bản trên và cho biết tác dụng của thành phần ấy. (0,5 điểm)
b. Xác định ít nhất một biện pháp tu từ được sử dụng trong câu Sống một cuộc đời, cũng giống vẽ một bức tranh vậy và chỉ ra tác dụng của biện pháp tu từ ấy. (0,5 điểm)
c. Nêu nội dung văn bản trên. (1,0 điểm)
d. Theo em, có phải lúc nào cũng nên theo đuổi ước mơ? Trả lời trong khoảng 3 - 5 dòng (1,0 điểm)
Câu 2: (3,0 điểm)
Phải chăng chỉ có những điều ngọt ngào mới làm nêu yêu thương?
Em hãy viết bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi) trả lời cho câu hỏi trên.
Câu 3: (4,0 điểm)
Trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa, nhà văn Nguyễn Thành Long đã viết về nhân vật anh thanh niên như sau:
Anh hạ giọng, nửa tâm sự, nửa đọc lại một điều rõ ràng đã ngẫm nghĩ nhiều:
- Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kĩ mới thấy một ngôi sao xa, cháu cũng nghĩ ngay ngôi sao kia lẻ loi một mình. Bây giờ làm nghề này cháu không nghĩ như vậy nữa. Vả, khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi việc của cháu gắm liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất. Còn người thì ai mà chả “thèm” hở bác? Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc? Đấy, cháu tự nói với cháu thế đấy. Bác lái xe đi, về Lai Châu cứ đến đây dừng lại một lát. Không vào “ốp” là cháu chạy xuống chơi, lâu thành lệ. Cháu bỗng dưng tự hỏi: Cái nhớ xe, nhớ người ấy thật ra là cái gì vậy? Nếu là nỗi nhớ phồn hoa đô hội thì xoàng. Cháu ở liền trong trạm hàng tháng. Bác lái xe bao lần dừng, bóp còi toe toe, mặc, cháu gan lì nhất định không xuống. Ấy thế là một hôm, bác lái phải thân hành lên trạm cháu. Cháu nói: “Đấy, bác cũng chẳng “thèm” người là gì?”.
Anh xoay sang người con gái đang một mắt đọc cuốn sách, một mắt lắng nghe, chân cô đung đưa khe khẽ, nói:
- Và cô cũng thấy đấy, lúc nào tôi cũng có người trò chuyện. Nghĩa là có sách ấy mà. Mỗi người viết một vẻ.
Cảm nhận của em về nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích trên. Từ đó, hãy liên hệ với hình ảnh của thế hệ trẻ trong một tác phẩm văn học khác hoặc trong thực tế đời sống để thấy được vẻ đẹp của sức trẻ Việt Nam
---HẾT---
BÀI GIẢI GỢI Ý
Câu 1 :
a. Thành phần phụ chú được thể hiện ở phần gạch dưới trong câu văn sau:
Kể cả những ước mơ rồ dại nhất trong lứa tuổi học trò – lứa tuổi bất ổn định nhất.
Thành phần phụ chú này có tác dụng bổ sung thể hiện rõ nhận thức tinh tế của người viết về lứa tuổi học trò: lứa tuổi bất ổn định nhất (lứa tuổi mới lớn, tâm sinh lý chưa ổn định nên có những suy nghĩ và biểu hiện không ổn định, khó đoán, nhiều khi người lớn khó lý giải một cách lô-gíc).
b. Câu “Sống một cuộc đời cũng giống như vẽ một bức tranh vậy” có biện pháp tu từ là so sánh: so sánh việc sống một cuộc đời với việc vẽ một bức tranh. Tác dụng của biện pháp này nêu lên nhận thức của người viết về đặc điểm của cuộc sống con người. Cuộc đời giống một bức tranh. Do đó mỗi người giống như một họa sĩ. Họa sĩ phải chủ động để sáng tạo nên bức tranh, con người cũng phải chủ động sống cuộc đời mà mình muốn tạo ra cho mình.
c. Nội dung của văn bản:
- Lời khuyên của tác giả Phạm Lữ Ân đối với những người trẻ tuổi: Hãy tìm ra ước mở cháy bỏng nhất trong nơi sâu thẳm của trái tim mình để tạo ra bức tranh riêng của chính đời sống mình cho dù đó là bức tranh tươi đẹp hay u ám. Hãy chủ động vẽ nên bức tranh của đời mình đừng để người khác vẽ giùm. Mỗi chúng ta có một cuộc đời không nên lãng phí nó. Đừng để người khác ăn cắp cuộc đời và luôn luôn nuôi dưỡng ước mơ của chính mình. “Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi, nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”.
d. Theo em, lúc nào cũng phải theo đuổi ước mơ dù là ở một hoàn cảnh đầy khó khăn và nghiệt ngã. Có ai đó đã nói rằng “Nước và nắng làm cho cho cây xanh tươi, ước mơ làm cho đời người cao đẹp hơn và có ý nghĩa hơn”. Theo em, người không nuôi dưỡng ước mơ như một lò than hồng đã tắt.
Câu 2:
Thí sinh cần đáp ứng yêu cầu của câu hỏi: trình bày suy nghĩ của mình được gợi lên từ vấn đề đã nêu trên trong phạm vi khoảng một trang giấy thi. Thí sinh có thể triển khai suy nghĩ của mình theo những cách thức cụ thể khác nhau. Sau đây là một số gợi ý để tham khảo:
*Yêu cầu chung : thí sinh biết kết hợp kiến thức và kỹ năng về dạng bài nghị luận xã hội để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
*Yêu cầu cụ thể:
a- Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận.
b- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Không phải chỉ có những điều ngọt ngào mới làm nên yêu thương. Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, sau đây là một gợi ý:
· Mở bài:
Hình như tình yêu thương không phải là một đặc trưng của loài người mà còn ở một số loài động vật khác. Thông thường yêu thương được phủ dưới một lớp áo của sự dịu dàng và ngọt ngào. Nhưng sự ngọt ngào chưa đủ để làm nên một tình yêu vĩ đại. Thật vậy, hãy nghĩ đến những khía cạnh khác của yêu thương bên cạnh ngọt ngào.
· Thân bài:
- Giải thích: Thế nào là yêu thương? Có nhiều loại yêu thương như tình mẫu tử, tình thầy trò, tình bạn bè… và có bao nhiêu thời đại, có bao nhiêu con người thì có bấy nhiêu cung cách yêu thương.
- Cung cách thường thấy nhất của yêu thương là sự ngọt ngào. Có yêu thương, ông bà, cha mẹ mới không giận dữ, quát mắng, rầy la, đánh đập khi con cháu làm việc sai quấy và luôn luôn vuốt ve, dịu dàng, vỗ về, chăm sóc khi con cháu thất bại trên đường đời. Có yêu thương, thầy cô mới không bực mình, la mắng khi học trò nói chuyện, nghịch giỡn trong giờ học, trong lúc thầy cô đang giảng bài. Có yêu thương, anh chị không nề vất vả, mất thời gian mà nhẹ nhàng, từ tốn hướng dẫn các em trong việc học, việc làm…
- Tuy nhiên, tục ngữ Việt Nam có câu: “Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi” hay “Thuốc đắng dã tật, lời thật mất lòng”. Những câu tục ngữ này đã khẳng định rằng roi vọt, lời mắng chửi có khi cũng là một cung cách biểu hiện của yêu thương. Khi con hư, cha mẹ thường giận dữ la mắng và đánh đòn nhưng ẩn đằng sau đó là một tình yêu thương vô bờ bến. Những lời trách mắng, những đòn roi đó có mục đích cao thượng là muốn con nên người. Khi học trò nói chuyện trong lớp, thầy cô đuổi học trò ra khỏi lớp nhưng trong lòng thầy cô là một tình yêu thương và một sự ngậm ngùi. Mục đích của người thầy là rèn luyện cho học trò mình thành một người vừa hồng vừa chuyên.
- Câu chuyện Lưu Bình – Dương Lễ ngày xưa cũng là một ví dụ cho thấy đôi khi yêu thương phải được ngụy trang bằng sự lạnh lùng và tàn nhẫn. Có những câu chuyện mà cái tát tai không phải của lòng thù hận mà bắt nguồn từ tình yêu thương, mà nhiều năm sau người nhận tát tai mới hiểu ra.
- Trong thực tế xã hội, những kẻ xấu thường sử dụng những lời ngọt ngào như những thủ đoạn để đánh lừa người khác.
- Trong tình thân bạn bè khi bạn mình sai thì rất cần những lời thẳng thắn như thuốc đắng dẫu có thể làm mất lòng bạn lúc đó nhưng sẽ có ích lợi lâu dài.
- Có những tiểu thuyết và phim ảnh nói về những tình yêu vĩ đại chúng ta bắt gặp bên cạnh những ngọt ngào là những đớn đau và cay đắng.
- Đôi khi sự yêu thương còn thể hiện bằng một sự im lặng mênh mông.
· Kết bài: Lòng yêu thương thường được biểu hiện bằng lời nói và thái độ ngọt ngào nhưng sự ngọt ngào chưa chắc đã xuất phát từ tình yêu thương thật sự. Cho nên, sống ở trên đời, chúng ta cần phải có thái độ tỉnh táo, khách quan trước mọi sự ngọt ngào và cay đắng. Bởi vì, “mật ngọt chết ruồi” và “kẻ khen ta mà khen đúng là bạn ta, kẻ chê ta mà chê đúng là thầy ta, còn kẻ nịnh ta là kẻ thù của ta”.
Câu 3:
* Yêu cầu chung: Thí sinh phải biết kết hợp kiến thức và kỹ năng làm bài nghị luận văn học: Cảm nhận vể một nhân vật trong một đoạn trích. Bài viết có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
* Yêu cầu cụ thể :
Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận gồm đủ 3 phần. Trong đó phần thân bài phải đáp ứng đủ hai yêu cầu của đề bài:
+ Cảm nhận về nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích của đề bài
+ Hình ảnh của thế hệ trẻ trong một tác phẩm văn học khác hoặc trong thực tế đời sống biểu hiện vẻ đẹp của sức trẻ Việt Nam.
Học sinh có thể triển khai bài viết theo những nội dung cụ thể khác nhau. Sau đây là một gợi ý.
- Mở bài:
- Giới thiệu vài nét về nhà văn Nguyễn Thành Long.
- Giới thiệu tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa. Trong đó có đoạn trích được dẫn ở đề bài mang lại cho người đọc nhiều cảm nhận về nhân vật anh thanh niên.
- Thân bài:
- Phần 1 : Cảm nhận nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích
+ Một người yêu mến công việc dù làm việc một mình trên đỉnh núi Yên Sơn trong khung cảnh vắng vẻ nhưng anh không cảm thấy lẻ loi vì công việc mang lại cho anh niềm vui và nhận thức về ý nghĩa của công việc làm. Cho nên với anh: ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được?
+ Một người có lòng yêu mến con người. Sống đơn độc nên anh rất khao khát được gặp gỡ và trò chuyện với mọi người. Chính anh đã khẳng định với bác tài xế xe khách: Còn người thì ai mà chả “thèm” hở bác?.
+ Một người ham học hỏi, rất quan tâm đến đời sống nội tâm. Sống một mình trên đỉnh núi, anh không cảm thấy cô đơn vì lúc nào bên cạnh anh cũng có sách. Ngoài giờ làm việc, ngoài lúc phải chăm sóc vườn hoa, đàn gà, anh dành thời gian để đọc sách. Khi cô kĩ sư, ông họa sĩ… đến phòng ở của anh và quyển sách anh đang đọc dở vẫn còn để mở trên bàn. Chính anh cũng đã khẳng định với cô kĩ sư: Và cô cũng thấy đấy, lúc nào tôi cũng có người trò chuyện. Nghĩa là có sách ấy mà. Mỗi người viết một vẻ. Cái cách đọc sách của anh tinh tế, nghiêm túc và đúng đắn biết bao.
+ Một người sống có lý tưởng, có trách nhiệm. Anh ý thức một cách rất rõ ràng: Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc?. Nhận thức đó cho thấy anh trẻ nhưng không hời hợt. Anh sống một mình nhưng không cô đơn vì lúc nào trong tư tưởng của anh mục đích sống, lẽ sống vẫn luôn luôn tồn tại và nhắc nhở. Làm một công việc đơn độc, phải dậy vào lúc nửa đêm, phải ra ngoài trời lúc mưa bão, lạnh lẽo, anh có thể nằm ở trong nhà, lấy số liệu cũ mà gọi bộ đàm về để báo cáo. Nhưng anh không làm điều đó. Vì anh có trách nhiệm và anh hiểu rõ việc anh làm ở đây có liên quan, có ảnh hưởng đến cuộc sống lao động và chiến đấu của rất nhiều người lúc bấy giờ. Việc phái đoàn không quân – phòng không đến thăm và khen ngợi anh đã cho thấy rõ điều đó.
+ Nhân vật anh thanh niên được xây dựng bằng một nghệ thuật đặc sắc. Nó được miêu tả và thể hiện qua cuộc gặp gỡ đặc biệt với ông họa sĩ già và cô kĩ sư trẻ; được bộc lộ qua lời đối thoại của nhân vật; nhân vật không có tên riêng, không có ngoại hình cụ thể mà chỉ có tên gọi theo kiểu chung, phiếm chỉ.
+ Vì thế, hình ảnh người thanh niên thể hiện vẻ đẹp của người thanh niên Việt Nam nói chung trong giai đoạn chống Mĩ: giản dị, chân thành và giàu lý tưởng; góp phần thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm, thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong chiến đấu; thể hiện cảm hứng của Nguyễn Thành Long khi sáng tác: “SaPa không chỉ là một sự yên tĩnh. Bên dưới sự yên tĩnh ấy, người ta làm việc”, hy sinh, yêu thương và mơ ước. Hình ảnh này gợi cho người đọc đến hình ảnh của thế hệ trẻ Việt Nam trong giai đoạn chống Mĩ nói riêng và theo dòng chảy thời gian nói chung.
- Phần 2: Nó gợi đến hình ảnh những người như cô Phương Định, Nho, Thao trong tác phẩm Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê).
+ Những cô thanh niên xung phong làm công tác trinh sát mặt đường trên đường mòn Trường Sơn trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ gian khổ, ác liệt và đầy nguy hiểm.
+ Nhưng họ là những người rất lạc quan, thích đùa tếu, mỗi người một vẻ. Trong đó tiêu biểu nhất là Phương Định. Đó là một cô gái Hà Nội xinh đẹp, có tâm hồn nhạy cảm, lao động và chiến đấu gan góc, dũng cảm và cũng là người có ý thức, có tình cảm đẹp về tình đồng đội của những người thanh niên: Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mĩ / Mà lòng phơi phới dậy tương lai.
- Phần 3: So sánh hai hình ảnh đã nêu trên
+ Họ là những nhân vật khác nhau trong những tác phẩm văn học khác nhau. Họ khác nhau về giới tính, về môi trường sống, về công việc cụ thể. Nhưng họ là những người thanh niên của cùng một thời kì chiến tranh, cùng thể hiện vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam trong một thời kì lịch sử đầy khốc liệt của Tổ quốc và cùng để lại những ấn tượng sâu đậm đối với người đọc ở các giai đoạn sau.
- Kết bài:
Đây là một đoạn văn ngắn nhưng biểu hiện được những nét tiêu biểu cho nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, của nhân vật anh thanh niên. Tác giả Nguyễn Thành Long đã thành công trong việc khắc họa nét đẹp của tuổi trẻ Việt Nam trong giai đoạn chiến tranh cũng như trong giai đoạn hiện nay.
Nguyễn Đức Hùng(Trung tâm luyện thi Vĩnh Viễn – TP.HCM)
Lịch thi tuyển sinh lớp 10 tại TP.HCM:
Ngày thi
|
Buổi
|
Môn thi
|
Thời gian làm bài
|
Giờ mở túi đề thi
|
Giờ phát đề thi cho thí sinh
|
Giờ bắt đầu làm bài
|
11.6.2016
|
Sáng
|
Ngữ văn
Ngoại ngữ
|
120 phút
60 phút
|
7 giờ 40
13 giờ 40
|
7 giờ 55
13 giờ 55
|
8 giờ 00
14 giờ 00
|
12.6.2016
|
Sáng
|
Toán
|
120 phút
|
7 giờ 40
|
7 giờ 55
|
8 giờ 00
|
Chiều
|
Môn chuyên
|
120phút/ 150 phút
|
13 giờ 40
|
13 giờ 55
|
14 giờ 00
|
Thanh Niên Online
Từ liên quan:
2016,
2016-2017,
Anh thanh niên,
Đọc - Hiểu,
Lặng lẽ Sapa,
Mơ ước,
Ngọt ngào,
NLVH,
NLXH,
Sức trẻ VN,
Yêu thương
TS10 2013 tại HCM : Đề thi môn văn -chuyên
Thi môn chuyên ở TPHCM: Văn hay, Toán khó
Thứ bẩy, 22/06/2013, 20:15 (GMT+7)
Chiều nay, môn thi chuyên của các thí sinh đăng ký vào các trường chuyên đã kết thúc. Theo ghi nhận của PV, trong khi đề toán được các bạn đánh giá là khó hơn mọi năm, có tính phân hóa rõ rệt thì đề thi văn được cho là khá hay, trong đó đặc biệt là câu một có tính gợi mở, tạo cho thí sinh nhiều sự lựa chọn khi trả lời.

Nhiều phụ huynh đội mưa chờ con đi thi
Chia sẻ về đề thi Toán, bạn Quốc Khôi – Trường THCS Minh Đức cho biết: “Đề thi toán năm nay khó hơn nhiều so với những năm trước, nhiều câu có tính phân loại cao, nếu không có kiến thức vững thì không thể làm được”.
Cùng chung suy nghĩ, bạn Thu Phương – Trường THCS Hoàng Quốc Việt cho biết thêm: “Đề thi vừa dài vừa khó, trong phòng của em rất nhiều bạn chỉ làm được vài câu, đề thi năm nay có tính phân loại cao, nhiều câu yêu cầu phải rất tập chung, tỉ mỉ, chỉ một chút sai sót cũng làm sai cả bài”.

Thí sinh chia sẻ về bài thi với phụ huynh khi kết thúc môn thi buổi chiều
Trong khi đó, nhiều bạn thi chuyên Văn lại vô cùng hứng thú với đề thi năm nay, bạn Kim Ngân – Trường THCS Nguyễn Du cho hay: “Đề thi năm nay dễ hơn năm ngoái, đặc biệt là câu đề mở, không bó buộc bọn em vào kiến thức trong sách giáo khoa, mỗi người khi làm bài sẽ có được sự lựa chọn riêng cho bản thân mình”.
Bạn Kim Yến – THCS Chánh Hưng thì chia sẻ: “Đề thi năm nay ra theo hướng mở, bọn em không chỉ phải vận dụng những kiến thức đã học vào trong bài làm mà còn phải có kiến thức về đời sống, xã hội, đây là điều mà bọn em rất thích thú với đề thi này, mỗi người có một suy nghĩ, một cách nhìn nhận riêng mà không ai giống ai”.

Đề thi Văn khối trường chuyên năm nay được cho là khá hay
Từ liên quan:
2013,
9.Thi HSG lớp 9,
9.Thi TS lớp 10,
Bến quê,
Bếp lửa,
Chiếc lược ngà,
Con cò,
Giá trị tức thời - bền vững,
Khát vọng,
Mơ ước,
Nói với con,
Trong lòng mẹ
TS10 2013 tại TP.HCM : Nhận định đề thi môn Văn
Đề văn tuyển sinh lớp 10 TP.HCM: Thời sự và đậm tính giáo dục
22/06/2013 03:30Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 môn văn của TP.HCM với một câu hỏi là vấn đề của giới trẻ thành thị và một câu lấy cảm hứng từ bài báo về sự vượt khó của học sinh miền biển đăng trên Thanh Niên.
![]() Thí sinh trao đổi sau giờ thi môn văn - Ảnh: Đào Ngọc Thạch |
Gần gũi với giới trẻ
Nhiều thí sinh cho rằng đề hay và mang tính thời sự, đặc biệt ở câu 2 đặt vấn đề về “ngôn ngữ chat, ngôn ngữ teen” và câu 3 nêu lên hoàn cảnh trẻ em nghèo vùng biển vượt khó trong mùa hè mà Báo Thanh Niên đã đăng ngày 18.6 vừa qua.
Vũ Tuấn Quang (Trường THCS Lê Lợi, Q.3) thừa nhận: “Câu hỏi số 2 đánh trúng tâm lý của phần lớn bạn trẻ, nhất là những người đang ở lứa tuổi như em. Đọc câu hỏi, em đã giật mình. Vì trước đây, bạn bè và cả em đa phần đều dùng ngôn ngữ teen để nhắn tin, viết thư, chat...”. Huy cho biết: “Làm bài xong, em tự nhủ mình cần phải có trách nhiệm, hạn chế và dần không dùng loại ngôn ngữ này nữa”. Với câu hỏi về nghị luận xã hội, Vũ Minh Tài, thí sinh thi tại hội đồng THCS Colette, Q.3, nhận định: “Đọc đoạn văn, em rất cảm động về ý chí vượt khó của các bạn. So với học sinh thành thị, các bạn thiệt thòi hơn rất nhiều, nhưng vẫn quyết vươn lên. Em ấn tượng nhất câu nói của những người mẹ nghèo”.
|
Một ý nghĩa đẹp về khát vọng
Ông Nguyễn Văn Cải, Phó hiệu trưởng Trường THPT Quang Trung (H.Củ Chi), nhận định: “Lâu lắm rồi mới thấy một đề văn vừa sinh động về hình thức, chất lượng về nội dung, khơi gợi sự sáng tạo của học sinh như vậy”.
Theo ông Nguyễn Hữu Dương, giáo viên Trung tâm luyện thi ĐH Vĩnh Viễn, câu hỏi số 2 dù hỏi về ngữ pháp nhưng lại rất thời sự và gần gũi với cách sử dụng ngôn ngữ hằng ngày quen thuộc của học sinh hiện nay. Câu hỏi chẳng những có tính chất kiểm tra tri thức của học sinh về ngữ pháp mà còn có tính chất giáo dục. Nó nhắc nhở học trò cần có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, kính trọng người lớn biểu hiện qua việc sử dụng ngôn ngữ. Cùng suy nghĩ, ông Đỗ Thiện Thanh, Phó hiệu trưởng Trường THCS Trần Quang Khải (Q.Tân Phú), đánh giá: “Câu 2 không chỉ chạm vào vấn đề thực tế giao tiếp của học sinh mà còn là thực tế chung của xã hội. Yêu cầu đề bài không đi vào lối mòn kiến thức, tránh học sinh học vẹt, học tủ mà phải hoàn toàn vận dụng tư duy”.
Về câu hỏi nghị luận xã hội, ông Dương nhận định: “Đây là một câu hỏi rất hay, thiết thực, gần gũi với cuộc sống. Câu chuyện giúp học sinh có dịp nhìn lại bản thân, gây ấn tượng sâu sắc đối với người đọc và chắc chắn gợi nhiều suy nghĩ. Cho nên đây là câu hỏi vừa có tính giáo dục, nhân văn, thẩm mỹ, vừa phù hợp với một câu hỏi tuyển sinh”. Bà Đinh Thị Ngọc Nhung, tổ trưởng Tổ ngữ văn Trường THCS Nguyễn Gia Thiều (Q.Tân Bình), cũng khẳng định: “Đề thi năm nay khá hay, đặc biệt là câu hỏi về nghị luận xã hội. Dữ liệu và yêu cầu câu hỏi vừa mang tính thời sự, vừa gắn liền với nhịp sống đời thường. Từ đó học sinh bày tỏ suy nghĩ của mình về ước mơ, khát vọng, nghị lực vươn lên trong cuộc sống”. Ông Đỗ Thiện Thanh cho rằng: “Câu 3 mang lại một ý nghĩa đẹp về khát vọng. Người ra đề đã thực sự thành công khi sử dụng đoạn trích trong bài báo Ôm ước mơ đi về phía biển. Đó là dữ liệu vừa giàu cảm xúc văn chương, vừa mang đậm tính nhân văn, gắn vào đó là truyền thống ham học của người dân Việt Nam. Đây là cơ hội để học sinh có dịp thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của mình mà không hề bị gò bó theo văn mẫu”.
Nhọc nhằn nuôi ước mơ đến trường
Ở làng chài bãi ngang (xã Phổ Châu, H.Đức Phổ, Quảng Ngãi) chiều nào tôi cũng chứng kiến nhiều đứa trẻ lặn ngụp dưới chân gành mong tìm mớ ốc, mớ cua…, bán đi để có tiền mua cái cặp, sách giáo khoa, tấm áo chuẩn bị cho năm học mới.
![]()
Với phần lớn trẻ con thành thị, những điều này không thể gọi là ước mơ vì chúng quá dễ dàng. Trong khi đó, đối với những đứa trẻ nghèo ở vùng biển này, những thứ ấy lại xa xôi hơn cả một giấc mơ. Và chúng phải đổ mồ hôi nơi cheo leo cuối bãi, đầu ghềnh mới mong có được.
Chứng kiến hoàn cảnh của những đứa trẻ vùng biển này, tôi đã viết bài Ôm ước mơ đi về phía biển đăng trên Báo Thanh Niên ngày 18.6. Thật xúc động khi biết tin các đồng nghiệp ở TP.HCM đã đưa bài này vào đề thi ngữ văn tuyển sinh lớp 10 trong ngày 21.6.
Chiều cùng ngày, tôi lại lò dò đi về phía biển với một mong ước nhìn thấy mấy đứa trẻ bắt được nhiều cua, nhiều nhum hơn. Bọn trẻ vẫn thế: ồn ào, hồn nhiên. Chúng “ùm” xuống, ngoi lên, rồi lại “ùm” xuống, ngoi lên… Những cái bóng bé xíu cõng chút “ước mơ” chạy lên quán “đặc sản biển”, bất kể doi cát bỏng rát nắng hè. Những bàn chân non nớt tất tả chạy đi, chạy về với bàn tay khư khư nắm chặt. Trong cái nắm tay nhỏ như chiếc lá ấy là “mong manh” những tờ giấy bạc, chắc cũng lèo tèo, bèo bọt như vóc dáng của chúng.
Trần Cao Duyên
(Giáo viên ở Quảng Ngãi) |
B.Thanh - M.Luân
>> Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 tại TP.HCM: Nhận xét đề thi môn ngữ văn
>> Gần 9.500 học sinh Đà Nẵng bước vào kỳ thi tuyển sinh lớp 10
>> Gương vượt khó đăng trên Báo Thanh Niên vào đề văn lớp 10
>> Hơn 40.000 học sinh TP.HCM dự thi tuyển sinh lớp 10
>> Đề thi lớp 10 có 20% dành cho học sinh khá giỏi
>> Nick Vujicic vào đề thi lớp 10 chuyên Ngữ văn Hà Nội
>> Gần 9.500 học sinh Đà Nẵng bước vào kỳ thi tuyển sinh lớp 10
>> Gương vượt khó đăng trên Báo Thanh Niên vào đề văn lớp 10
>> Hơn 40.000 học sinh TP.HCM dự thi tuyển sinh lớp 10
>> Đề thi lớp 10 có 20% dành cho học sinh khá giỏi
>> Nick Vujicic vào đề thi lớp 10 chuyên Ngữ văn Hà Nội
TS10 2013: Đề và gợi ý chấm môn Văn tại HCM
.KÌ THI TUYỂN SINH LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG
Khóa ngày 21 tháng 06 năm 2013 tại TPHCM
Môn thi : VĂN
Thời gian: 120 phút (không tính thời gian
giao đề)
ĐỀ CHÍNH THỨC
Câu 1 (1
điểm)
Truyện “Chiếc lược ngà” xoay quanh một kỉ vật đơn sơ
mà vô giá nối hai cuộc gặp gỡ với ba con người. Nhưng vang vọng suốt cả câu
chuyện, suốt những quãng đời, suốt những
cuộc đời ấy chỉ có một tiếng kêu, một tiếng kêu bình dị mà thiêng liêng bậc
nhất của cõi đời này, ấy là tiếng … !
(Chu Văn Sơn, Phân tích – bình giảng tác phẩm văn học)
Tiếng
kêu bình dị mà thiêng liêng bậc nhất trong tác phẩm Chiếc
lược ngà của Nguyễn Quang Sáng được nhắc đến trong đoạn trích trên là gì?
Tiêng kêu ấy thể hiện tâm trạng gì của nhân vật?
Câu 2 : (1 điểm)
Bạn trẻ trong
hình bên đã dùng ngôn ngữ chat, ngôn ngữ tuổi teen, khi giao tiếp với
người lớn. Theo em, bạn ấy đã vi phạm phương châm hội thoại nào? Nguyên nhân
dẫn đến sự vi phạm đó?
Câu 3: (3 điểm)
Mùa hè này, những học trò nghèo của làng chài bãi ngang xã Phổ Châu, huyện
Đức Phổ, tỉnh Quãng Ngãi, ngày nào cũng xuống biển bắt cua, sò, ốc … để kiếm
vài ngàn ít ỏi nuôi mơ ước đến trường. Từng giọt mồ hôi “non nớt” sớm rơi trên
gành đá, hòa vào lòng biển vì ước mong có được bộ sách, cái cặp… cho năm học mới.
Đồng hành với khát khao của con trẻ, những người mẹ nghèo của vùng đất này cũng
nói với con: “Ăn khổ mấy má cũng chịu, miễn con có sách vở, quần áo mới tới trường
là má vui rồi!”
(Theo
Báo Thanh niên ngày 18-6-2013,
Ôm ước mơ đi về phía biển)
Hãy viết bài văn ngắn
(khoảng 01 trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của em được gợi ra từ câu chuyện
trên.
Câu 4: (5 điểm)
Không có kính, rồi xe không có đèn, Mùa xuân người cầm súng
Không có mui xe, thùng xe có xước, Lộc giắt đầy trên lưng
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước: Mùa xuân người ra đồng
Chỉ cần trong xe có một trái tim. Lộc trải dài nương mạ
(Phạm
Tiến Duật – Bài thơ về Tất cả như hối hả
tiểu đội xe không kính) Tất
cả như xôn xao …
(Thanh
Hải – Mùa xuân nho nhỏ)
Trình bày cảm nhận về một trong hai vấn đề sau:
1.
Tình cảm của người Việt Nam
đối với đất nước qua hai khổ thơ trên.
2.
Vẻ đẹp của hình ảnh ẩn dụ
trong hai khổ thơ trên.
BÀI GIẢI GỢI Ý
Câu 1 :
Tiếng kêu bình dị mà thiêng liêng bậc nhất trong tác phẩm Chiếc lược ngà
của Nguyễn Quang Sáng được nhắc đến trong đoạn trích trên là : tiếng “Ba”.
Đối với ông Sáu, tiếng “Ba” ấy thể
hiện lòng yêu thương của một người cha đối với con và niềm khao khát được nghe
con gọi tiếng “Ba” sau rất nhiều năm cha con không gặp mặt vì chiến tranh.
Còn đối với bé
Thu, tiếng “Ba” ấy là một tiếng gọi thiêng liêng thể hiện lòng yêu thương của
người con đối với cha. Vì vậy, trước khi khẳng định ông Sáu đúng là bố của
mình, em đã nhất định không gọi ông Sáu là ba. Chỉ đến khi xác định được ông
Sáu đúng là ba của mình, em đã kêu ông Sáu là ba, một cái tiếng “Ba” xé sự im lặng, xé cả ruột gan của mọi người,
nghe thật xót xa.
Câu 2:
Bạn trẻ trong hình đã vi phạm phương
châm hội thoại cách thức vì phương châm này yêu cầu khi nói phải nói ngắn gọn,
rõ ràng, rành mạch, tránh mơ hồ.
Nguyên nhân dẫn đến sự vi phạm này là do
thiếu ý thức khi sử dụng phương châm hội thoại, thiếu văn hóa khi giao tiếp,
đặc biệt là thiếu ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Câu 3:
Thí
sinh cần đáp ứng yêu cầu của câu hỏi : trình bày suy nghĩ của mình được gợi lên
từ câu truyện trên trong phạm vi khoảng một trang giấy thi.
Thí sinh có thể triển khai suy nghĩ
của mình theo những cách thức cụ thể khác nhau. Sau đây là một số gợi ý để tham
khảo:
-
Bên
cạnh những học sinh được chăm lo đầy đủ còn có những học sinh phải nỗ lực đến tận
cùng để kiếm vài ngàn ít ỏi nuôi mơ ước được đến trường.
-
Những
giọt mồ hôi “non nớt” sớm rơi trên gành đá hòa vào lòng biển vì ước mong có được
bộ sách, cái cặp đã tạo những xúc động sâu sắc đến với người đọc, đặc biệt là đối
với lứa tuổi học sinh.
-
Bên
cạnh những ước mơ bình thường mà đau đớn đó là tấm lòng của những người mẹ dành
cho con. Họ sẵn sàng chịu đựng khổ sở đến cùng cực để con được cắp sách đến trường.
-
Câu
chuyện đã giúp em nhìn lại bản thân mình. Đã thờ ơ trước công ơn ba mẹ đã nuôi
dưỡng và tạo điều kiện để em được đến trường. Câu chuyện mãi mãi là một ấn tượng
sâu sắc trong cuộc đời học sinh của chúng em. Nó như một hành trang quý giá
giúp em biết trân trọng và yêu thương những điều bình dị mà cao cả.
-
Những
ước mơ của các em học trò nghèo ở làng chài đẹp như những đóa hoa xương rồng nở
trên gai góc và nắng gió.
-
Ước
mơ cao đẹp trong điều kiện đói nghèo và tấm lòng của người mẹ là biểu tượng đẹp
và
-
khá
phổ biến trong những gia đình nghèo ở Việt Nam .
-
“Ôm
ước mơ đi về phía biển” là một biểu tượng nghệ thuật đẹp đẽ của ý chí và khát vọng
vươn lên trên nền tối là sự đói nghèo và thiếu thốn.
-
Câu
chuyện là một bài học cho tuổi học sinh, phải biết trân trọng những gì mình
đang có, biết chia sẻ và cảm thông với những người cùng lứa tuổi nhưng không có
điều kiện như mình. Từ đó, các em cần phải nỗ lực hơn trong việc học và góp phần
nhỏ nhoi nào đó để chia sẻ và giúp đỡ những học sinh nghèo.
Câu 4:
Câu
hỏi cho phép thí sinh chọn một trong hai vấn đề. Do đó, mỗi thí sinh chỉ thực
hiện một vấn đề mà thôi. Ở mỗi vấn đề,
thí sinh có thể triển khai một cách cụ thể khác nhau. Sau đây chỉ là một số gợi
ý để tham khảo.
Vấn đề thứ nhất: Tình cảm của người Việt Nam đối với đất
nước qua hai khổ thơ trên.
Mở bài: Giới thiệu lòng yêu nước là một trong những tình cảm lớn
của con người Việt Nam được thể hiện trong rất nhiều sáng tác của thơ ca như
trong hai đoạn thơ sau đây (chép lại 2 đoạn thơ).
Thân bài:
-
Tình
cảm của người Việt Nam đối với đất nước qua khổ thơ trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính.
+ Giới thiệu vài nét về Phạm Tiến Duật :
nhà thơ quân đội trưởng thành trong giai đoạn chống Mĩ; công tác ở binh đoàn
Trường Sơn và có nhiều bài thơ nổi tiếng về cuộc sống của những người lính trên
đường mòn Trường Sơn thời chống Mĩ, trong đó có Bài thơ về tiểu đội xe không kính.
+ Giới thiệu Bài thơ về tiểu đội xe không kính : được sáng tác trong giai đoạn
kháng chiến chống Mĩ; bài thơ có bảy khổ và đây là khổ thơ cuối cùng của bài
thơ.
+ Khổ thơ thể hiện tình cảm yêu nước của
nhân dân Việt Nam trong hoàn cảnh đất nước đang bị chia đôi, miền Nam trực tiếp
đấu tranh với Mĩ và miền Bắc vừa đương đầu với chiến tranh phá hoại của Mĩ vừa hỗ
trợ cho miền Nam về người, về của để chiến đấu.
Hai
câu thơ đầu, qua hình tượng đặc biệt những chiếc xe không có kính với những hư
hao mất mát tiếp tục có thể có đã gợi lên sự khốc liệt của chiến tranh.
Hai
câu thơ sau là lời khẳng định tình cảm bất di bất dịch vì miền Nam phía trước, tình cảm yêu nước của người chiến sĩ lái xe
nói riêng, của nhân dân Việt Nam nói chung. Đó là nguồn sức mạnh tinh thần to
lớn giúp con người Việt Nam vượt qua tất cả gian khổ, chấp nhận hi sinh vì sự
nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốc.
-
Tình
cảm của người Việt Nam đối với đất nước qua khổ thơ trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ
+ Giới thiệu nhà thơ Thanh Hải : là nhà
thơ trưởng thành trong giai đoạn chống Mĩ, có những đóng góp cho sự phát triển
của văn học giải phóng miền Nam.
+ Giới thiệu bài thơ, khổ thơ : Mùa xuân nho nhỏ được sáng tác vào tháng
11/1980 vào lúc nhà thơ đang ở trên giường bệnh; thể hiện tình cảm của nhà thơ
đối với đất nước; về cơ bản bài thơ có ba phần, đoạn thơ này là phần thứ hai
trong bài thơ; phần thơ thể hiện suy nghĩ của nhà thơ về trách nhiệm đối với
đất nước.
+ Trách nhiệm đối với đất nước :
Hai
câu đầu: thông qua những hình ảnh ẩn dụ nhà thơ nói lên trách nhiệm cầm súng
bảo vệ tổ quốc của mọi công dân.
Hai
câu tiếp theo: thông qua những hình ảnh ẩn dụ nhà thơ nói lên trách nhiệm lao
động và phát triển đất nước.
è Bốn câu thơ có những hình ảnh thơ bình
dị, gần gũi với cuộc sống gợi được những cảm nhận của mọi người về tình yêu đối
với thiên nhiên và đất nước.
Hai câu cuối : thông qua phép điệp, hai
câu thơ thể hiện không khí sôi nổi, phấn khởi, khẩn trương của cả dân tộc trong
cả hai sự nghiệp lao động xây dựng và chiến đấu bảo vệ tổ quốc.
-
Cả
hai đoạn thơ thể hiện tình cảm của người Việt Nam đối với đất nước :
+ Trong cuộc sống hòa bình : lao động
hăng say xây dựng đất nước.
+ Trong chiến tranh : sẵn sàng xả thân,
hi sinh bảo vệ tổ quốc.
Kết
bài:
Hai đoạn thơ của hai tác giả khác
nhau, ra đời trong hai hoàn cảnh khác nhưng cùng thể hiện một tình cảm lớn của
con người Việt Nam và để lại những ấn tượng sâu sắc đối với người đọc.
Vấn đề thứ hai: Vẻ đẹp của hình ảnh ẩn dụ trong hai khổ
thơ trên.
Mở
bài:
Giới
thiệu chung : Phạm Tiến Duật và Thanh Hải là những nhà thơ nổi tiếng của văn
học Việt Nam thời chống Mĩ. Bài thơ về
tiểu đội xe không kính và Mùa xuân
nho nhỏ là những thi phẩm nổi tiếng của họ. Trong hai bài thơ trên, có hai
đoạn thơ đã xây dựng được những hình ảnh ẩn dụ đẹp (dẫn lại hai đoạn thơ)
Thân
bài:
-
Vẻ
đẹp ẩn dụ trong khổ thơ của Bài thơ về
tiểu đội xe không kính:
+ Giới thiệu vài nét về Phạm Tiến Duật :
nhà thơ quân đội trưởng thành trong giai đoạn chống Mĩ; công tác ở binh đoàn
Trường Sơn và có nhiều bài thơ nổi tiếng về cuộc sống của những người lính trên
đường mòn Trường Sơn thời chống Mĩ, trong đó có Bài thơ về tiểu đội xe không kính.
+ Giới thiệu Bài thơ về tiểu đội xe không kính : được sáng tác trong giai đoạn
kháng chiến chống Mĩ; bài thơ có bảy khổ và đây là khổ thơ cuối cùng của bài
thơ.
+ Vẻ đẹp của hình ảnh ẩn dụ trong khổ thơ
Hình
ảnh những chiếc xe không kính (trong hai câu
thơ đầu): gắn với những chi tiết hiện thực trần trụi (không có kính,
không có đèn, không có mui xe, thùng xe có xước) gợi lên hình tượng thơ độc
đáo, có ý nghĩa của một chi tiết nghệ thuật đặc sắc, nói lên sự khốc liệt của
chiến tranh; đây là một hình tượng thơ mang bản sắc rất riêng của nhà thơ Phạm
Tiến Duật về hiện thực chiến tranh.
Hình
ảnh miền Nam phía trước là hình ảnh
ẩn dụ gợi tới hình ảnh tổ quốc Việt Nam, gợi tới nhiệm vụ chiến đấu trong giai
đoạn chống Mĩ. Gợi tới mục đích chiến đấu mà mỗi chiến sĩ phải hoàn thành; một
hình ẩn dụ có sức khích lệ động viên tinh thần chiến đấu của nhân dân.
Hình
ảnh trái tim : một hình ảnh quen
thuộc là biểu tượng cho tình yêu, ở đây là tình yêu tổ quốc và đồng bào miền
Nam. Hình ảnh quen thuộc nhưng được biểu hiện bằng một cách diễn đạt giản dị và
đầy ẩn ý : Chỉ cần trong xe có một trái
tim. Đây là cách nói khá gợi cảm và thuyết phục. Cách nói này nhấn mạnh sức
mạnh to lớn của tình cảm yêu nước nơi người chiến sĩ của binh đoàn Trường Sơn,
của người bộ đội Việt Nam trong thời chống Mĩ trước mưa bom bão đạn đầy khốc
liệt.
-
Vẻ
đẹp ẩn dụ trong khổ thơ của Mùa xuân nho
nhỏ:
+ Giới thiệu nhà thơ Thanh Hải : là nhà
thơ trưởng thành trong giai đoạn chống Mĩ, có những đóng góp cho sự phát triển
của văn học giải phóng miền Nam.
+ Giới thiệu bài thơ, khổ thơ : Mùa xuân nho nhỏ được sáng tác vào tháng
11/1980 vào lúc nhà thơ đang ở trên giường bệnh; thể hiện tình cảm của nhà thơ
đối với đất nước; về cơ bản bài thơ có ba phần, đoạn thơ này là phần thứ hai
trong bài thơ; phần thơ thể hiện suy nghĩ của nhà thơ về trách nhiệm đối với
đất nước.
+ Vẻ đẹp ẩn dụ trong khổ thơ:
Hình ảnh mùa xuân : là hình ảnh ẩn dụ cho cuộc sống, một cuộc sống xuân, tươi đẹp, tràn trề sinh lực của
đất nước trong giai đoạn sau 1975 (sau chiến thắng chống Mĩ, đất nước được
thống nhất, hòa bình)
Hình ảnh người cầm súng : là hình ảnh ẩn dụ cho nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ tổ
quốc. Hình ảnh bình dị gần gũi với cuộc sống cũng gợi được suy nghĩ của người
đọc.
Hình ảnh người ra đồng : là là hình ảnh ẩn dụ cho nhiệm vụ lao động xây dựng
phát triển đất nước. Hình ảnh bình dị gần gũi với cuộc sống cũng gợi được suy
nghĩ của người đọc.
Hình ảnh Lộc : hình ảnh ẩn dụ có tính đa nghĩa cho nên gợi được nhiều liên
tưởng và cảm nhận nơi người đọc. Lộc là
chồi non. Lộc giắt đầy trên lưng gợi
hình ảnh người lính ngụy trang khi chiến đấu; Lộc trải dài nương mạ gợi những mầm non được sử dụng khi gieo
trồng. Nhưng Lộc đồng thời cũng có
thể gợi tới hình ảnh đặc biệt của người lính trong giai đoạn mới của tổ quốc từ
chiến tranh chuyển sang hòa bình, từ chiến đấu chuyển sang sản xuất; gợi tới
thành quả mà sự nghiệp chiến đấu và lao động mang lại cho đất nước, gợi tới
cống hiến đặc biệt của người lính : cầm súng bảo vệ tổ quốc để mang lại “Lộc” (những điều hạnh phúc tốt đẹp, may
mắn,…) cho cuộc đời.
-
Hai
khổ thơ đều có những hình ảnh ẩn dụ. Mỗi hình ảnh có sắc thái riêng, có ý nghĩa
riêng và góp phần biểu hiện phong cách riêng của từng tác giả. Ví dụ như hình
ảnh ẩn dụ của Phạm Tiến Duật thì độc đáo, đặc sắc; còn của Thanh Hải thì bình
dị mà có ý nghĩa sâu xa.
Kết bài:
Hai đoạn thơ của hai tác giả khác nhau,
ra đời trong hai hoàn cảnh khác nhau nhưng đều sử dụng một biện pháp tu từ rất
quen thuộc của thơ ca : ẩn dụ. Tuy
nhiên, hình ảnh ẩn dụ ở mỗi tác giả đều có những nét đẹp riêng, bản sắc riêng,
phong cách riêng tạo thành cái độc đáo, hấp dẫn của mỗi nhà thơ.
Lý Thị Tú Anh – Phan Thị Thanh
(Trường THPT Vĩnh Viễn – TP.HCM)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)













