Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ năng Đọc - Hiểu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ năng Đọc - Hiểu. Hiển thị tất cả bài đăng

Gợi ý đáp án thi TN 2014 môn Văn

BAØI GIAÛI GÔÏI YÙ
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
1. Nêu những ý chính của văn bản:
             _ Việc hạ đặt giàn khoan HD 981 ở vùng biển Việt Nam là trái phép.
             _ Hành động hung hăng cản phá lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam là vi phạm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982.
             _ Trái tim hơn 90 triệu người dân Việt Nam trong nước, hơn 4 triệu kiều bào Việt kiều ở nước ngoài, và nhân dân tiến bộ của thế giới luôn hướng về Biển Đông, hướng về Hoàng Sa và Trường Sa với một tâm trạng nhiều bức xúc và âu lo.
             _ Một lần nữa, chúng ta được chứng kiến tinh thần yêu nước và đoàn kết trong mỗi người dân Việt Nam; chứng kiến được lòng quyết tâm bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc và lên án mạnh mẽ hành động sai trái, phi lí của Trung Quốc.
             _ Trước tình hình hiện nay chúng ta phải bình tĩnh sáng suốt để có hành động phù hợp.
2. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản :
             Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận biểu hiện trong một bài bình luận trên báo về một vấn đề chính trị, thời sự.
             Việc sử dụng các từ được gạch dưới trong văn bản tạo được sắc thái biểu cảm, gây được hiệu quả truyền cảm; qua đó nêu bật được thái độ hung hăng sai trái, trắng trợn của Trung Quốc khi hạ đặt trái phép giàn khoan HD 981 trên vùng lãnh hải thuộc chủ quyền Việt Nam.
3. Viết đoạn văn ngắn bày tỏ thái độ của anh/chị về sự kiện trên :
             Đây là một yêu cầu nằm trong phần đọc hiểu (3,0 điểm). Vì thế, thí sinh nên thực hiện đúng yêu cầu viết một đoạn văn ngắn để bày tỏ thái độ của mình về sự kiện trên.
             Thí sinh có thể viết với những nội dung cụ thể khác nhau. Tuy nhiên, phải biểu hiện tập trung được thái độ của bản thân. Sau đây là một ví dụ gợi ý.
             Ngay từ khi còn bé chúng ta đã được dạy về lòng yêu nước. Những câu nói như : “… thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước…”, “… Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách…” cũng như những lời thơ trong bài Đất Nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã để lại những ấn tượng sâu đậm trong suy nghĩ của những người dân Việt.
             Tình hình nghiêm trọng đã và đang xảy ra ở Biển Đông đã đánh thức lòng yêu nước, sự căm giận và sự trăn trở đối với những con người biết yêu chuộng hòa bình. Lứa tuổi học sinh chúng em cũng không thể nào vô cảm và làm ngơ trước những biến động lớn lao của đất nước. Chúng ta phải nhận thức rõ hành động ngang ngược của Trung Quốc là vi phạm chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vi phạm luật pháp quốc tế. Chúng ta ủng hộ các hoạt động của chính phủ, của các cơ quan thông tấn trong và ngoài nước, của lực lượng kiểm ngư, tầm soát biển, của ngư dân… trong việc đấu tranh trên thực địa cũng như trên các mặt trận ngoại giao, chính trị… ở trong nước cũng như các diễn đàn quốc tế. Yêu nước nhưng chúng ta phải bình tĩnh, sáng suốt trước diễn biến và tình hình không để kẻ xấu lợi dụng, kích động; không để lòng yêu nước cực đoan điều khiển, chi phối dẫn đến những hành động “giận cá chém thớt”, gây rối, phá phách… ảnh hưởng xấu đến sự ổn định và uy tín của đất nước. Chúng ta phải yêu nước một cách chính đáng, sáng suốt; phải phân biệt nhân dân Trung Quốc với những kẻ hiếu chiến, ngạo mạn trong giới cầm quyền Trung Quốc. Trong phạm vi cụ thể, chúng ta cần tham gia những hành động thiết thực như đóng góp ủng hộ các ngư dân, lực lượng kiểm ngư, lực lượng cảnh sát biển… nơi đầu sóng ngọn gió; giúp đỡ gia đình của những người trong các lực lượng nói trên để họ yên tâm hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền tổ quốc. Chúng ta cũng cần có tinh thần và thái độ sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của tổ quốc khi cần thiết: gia nhập lực lượng vũ trang…
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
  1. GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ
-          Vị trí của tác giả trong đời sống văn học nghệ thuật và phong cách sáng tác.
-          Nêu chủ đề tác phẩm
-          Yêu cầu của đề : khát vọng sống của nhân vật Hồn Trương Ba và suy nghĩ của bản thân thí sinh được sống là chính mình.
  1. PHÂN TÍCH  (Thí sinh cần làm rõ 2 luận điểm )
  1. Khát vọng của nhân vật Hồn Trương Ba :
a)       Khái quát vở kịch :
-          Đây là vở kịch nói về tấn bi kịch của con người không được sống là chính mình, được tác giả Lưu Quang Vũ xây dựng, khắc họa chân thực, sinh động và giàu tính triết lý qua điển hình nhân vật Hồn Trương Ba.
b)       Vị trí đoạn trích :
-          Thuộc cảnh 7 phần kết của vở kịch - viết về cuộc đối thoại giữa Hồn Trương Ba với Đế Thích
c)       Sự tắc trách của thế lực cầm quyền (Nam Tào, Bắc Đẩu, Đế Thích)
-          Cái chết của Trương Ba xuất phát từ sự tắc trách của Nam Tào.
-          Trương Ba phải sống nhờ trong xác anh hàng thịt xuất phát từ sự tùy tiện của Đế Thích.
-          Khi Trương Ba muốn rời khỏi xác anh hàng thịt, thì Đế Thích tiếp tục muốn cho ông nhập vào xác Cu Tỵ, điều đó thể hiện thế lực cầm quyền đi từ sai lầm này đến sai lầm khác.
d)       Diễn biến tâm lý nhân vật và khát vọng sống:
-          Đau khổ, dày vò vì phải rơi vào cảnh hồn và xác “chia lìa đôi ngã”.
-          Bản thân bị gia đình xa lánh, vì từ con người thanh cao trở nên thô lỗ trong tính cách.
-          Trách móc thái độ vô cảm “ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!”.
-          Trăn trở và khát vọng sống cháy bỏng “Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”.
Qua đó, tác giả ngợi ca trước khi chết, Hồn Trương Ba có một nhân sinh quan cao đẹp khi chấp nhận từ chối cuộc sống vay mượn giả dối.
  1. Suy nghĩ của bản thân về vấn  đề “con người được sống là chính mình”
(Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng phải đảm bảo những ý chính sau đây. Đồng thời đây là bài nghị luận tích hợp giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội. Vì vậy, thí sinh cần linh hoạt liên kết cho hợp lý)
-          Con người là một chỉnh thể thống nhất (thể chất và tâm hồn).
-          Quan niệm xưa : đề cao phần hồn.
-          Quan niệm hiện đại : đặt ngang tầm giá trị của thể chất và tâm hồn (không thể có một tâm hồn lành mạnh sáng suốt khi thể chất yếu ớt đau ốm).
-       Hậu quả của việc không được sống là chính mình:
+ Bị lệ thuộc vào người khác, mất quyền được sống chân chính.
+ Nhân cách có nguy cơ bị tha hóa, có thể bị những thế lực xấu sai khiến gây nguy hại cho xã hội.
+ Ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, gây đau khổ cho người thân.
-      Ý nghĩa của việc được sống là chính mình:
+ Được tự do suy nghĩ, mơ ước, hành động và phát triển các năng lực.
+ Được tôn trọng.
+ Góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc, cộng đồng bền vững.
             3. Nhận định chung:
-   Khát vọng sống là chính mình của Hồn Trương Ba là khát vọng chính đáng, cần được tôn trọng và phát huy.
-  Tác giả Lưu Quang Vũ đã chọn được một đề tài vừa mang tính thời sự, vừa có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. Từ đó tác giả đã nêu lên được một triết lý sống đẹp đẽ đối với mọi thời đại.
             - Trong cuộc sống hiện nay, con người được khuyến khích phát huy mọi khả năng của bản thân. Học sinh nói riêng, tuổi trẻ nói chung cần có nhu cầu “được sống là chính mình”; cần có ý thức khẳng định “cái tôi cá nhân” – không phải tự tôn, đề cao bản thân.
III. Kết luận:
-     Ngợi ca nhân sinh quan cao đẹp của Hồn Trương Ba.
-     Bản thân mỗi người cần sống trung thực, tránh lối sống vay mượn, giả dối.
-     Sức sống của tác phẩm đối với độc giả hiện nay.

Nguyễn Thị Đan Thanh  

     (Trung tâm LTĐH Vĩnh Viễn)

Đề thi và đáp án chính thức TN THPT 2014 môn Ngữ văn 2014

ĐỀ THI TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2014 MÔN NGỮ VĂN
Thời gian làm bài : 120 phút
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Những ngày đầu tháng 5/2014, Trung Quốc ngang nhiên xâm nhập và hạ đặt giàn khoan HD 981 trái phép ở vùng đặc quyền kinh tế và quyền tài phán của Việt Nam, có những hành động hung hăng cản phá lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982. Trước tình hình đó, trái tim của hơn 90 triệu người dân Việt Nam ở trong nước, hơn 4 triệu kiều bào Việt Nam ở nước ngoài, nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới luôn nóng bỏng hướng về Biển Đông, hướng về Hoàng Sa và Trường Sa, dõi theo từng tin tức được truyền đi từ hiện trường vụ việc.
Những ngày qua, chúng ta lại một lần nữa chứng kiến tinh thần yêu nước trong mỗi một người dân Việt Nam, kiều bào ta ở nước ngoài, thể hiện sự đoàn kết trong quyết tâm bảo vệ vùng biển, đảo, chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, lên án mạnh mẽ những hành động sai trái, phi lý của Trung Quốc. Tuy nhiên, trước tình hình hiện nay chúng ta phải bình tĩnh, sáng suốt nhận định những sự kiện đang diễn ra trên Biển Đông để có hành động phù hợp.
 (Bình tĩnh, sáng suốt thể hiện lòng yêu nước - Nguyễn Thế Hanh,
 Báo Giáo Dục & Thời đại số 116 ra ngày 15 - 5 - 2014) 
Đọc văn bản trên và thực hiện các yêu cầu sau:
1. Nêu những ý chính của văn bản
2. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản. Việc dùng các từ được gạch dưới trong câu: “Những ngày đầu tháng 5/2014,  Trung Quốc ngang nhiên xâm nhập và hạ đặt giàn khoan HD 981 trái phép ở vùng đặc quyền kinh tế và quyền tài phán của Việt Nam, có những hành động hung hăng cản phá lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam, vi phạmnghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.” có hiệu quả diễn đạt như thế nào?
3. Viết một đoạn văn ngắn bày tỏ thái độ của anh/chị về sự kiện trên.
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ có đoạn:
Hồn Trương Ba: Ông Đế Thích ạ, tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt được nữa, không thể được!
Đế Thích: Sao thế? Có gì không ổn đâu!
Hồn Trương Ba: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn.
Đế Thích: Thế ông ngỡ tất cả mọi người đều được là mình toàn vẹn cả ư? Ngay cả tôi đây. Ở bên ngoài, tôi đâu có được sống theo những điều tôi nghĩ bên trong. Mà cả Ngọc Hoàng nữa, chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh vị Ngọc Hoàng. Dưới đất, trên trời đều thế cả, nữa là ông. Ông đã bị gạch tên khỏi sổ Nam Tào. Thân thể thật của ông đã tan rữa trong bùn đất, còn chút hình thù gì của ông đâu!
Hồn Trương Ba: Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác, đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!
(Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013, tr. 149)
Phân tích khát vọng của nhân vật Hồn Trương Ba trong đoạn trích trên. Từ đó, trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề: con người cần được sống là chính mình.
----------------------
Hướng dẫn chấm chính thức của Bộ Giáo dục




Bàn thêm về “đề mở” trong kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn

giaoducthoidai.vn

Bàn thêm về “đề mở” trong kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn
GD&TĐ - “Đề mở” đã trở thành đề tài nóng không chỉ với môn Ngữ văn mà với các môn khoa học xã hội và nhân văn khác. 
Thực hiện nhiệm vụ đổi mới giáo dục phổ thông theo tinh thần Nghị quyết 29/NQ-TW, ngày 6/3/2014 Bộ GD&ĐT đã ban hành kế hoạch số 103/KH-BGDĐT về việc tổ chức hội thảo “Đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn trong trường phổ thông”. 
Hội thảo nhằm nghiên cứu cơ sở lý luận và xây dựng kế hoạch triển khai việc đổi mới phương thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn ở trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực người học với cách thức xây dựng đề thi/kiểm tra và đáp án theo hướng mở; tích hợp kiến thức liên môn; giải quyết vấn đề thực tiễn.
Để chuẩn bị cho Hội thảo (dự kiến được tổ chức tại Hà Nội trung tuần tháng 4/2014), báo Giáo dục và Thời đại giới thiệu một số bài thảo luận về vấn đề nêu trên. 
Xin mời các ý kiến trao đổi, góp ý cho bài viết này gửi về các địa chỉ sau: nthoan@moet.edu.vn; 
ttkdung@moet.edu.vn; 
pthien@moet.edu.vn  
Trân trọng cảm ơn!  
Những năm gần đây, dù còn không ít vấn đề cần bàn về chương trình - sách giáo khoa môn Ngữ văn, phương pháp dạy học Văn, công tác đào tạo - bồi dưỡng giáo viên Ngữ văn, dư luận đã có những đánh giá tích cực về việc đổi mới trong kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn, đặc biệt là vấn đề “Đề mở” trong kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn.
Từ các chuyên gia đầu ngành, người làm công tác quản lý, chỉ đạo chuyên môn đến giáo viên trực tiếp đứng lớp, từ phụ huynh đến học sinh… đều đóng góp tiếng nói riêng của mình về vấn đề này: Đề và việc rèn luyện năng lực viết sáng tạo (PGS.TS Đỗ Ngọc Thống), Đề mở trong làm văn (GS.TS Trần Đình Sử), Đề mở và đổi mới phương pháp dạy học Ngữ vănĐề “mở ép”, bài thi “thảm họa”...
Điều đó càng chứng tỏ “vị trí số một của môn Ngữ văn” như phát biểu của Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển tại Hội thảo Quốc gia về dạy học Ngữ văn.
Nói như thế không có nghĩa là trước đây, trong kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, cũng như trong những kỳ thi Quốc gia, kể cả thi tốt nghiệp THPT và thi học sinh giỏi, môn Ngữ văn chỉ có những đề đóng, không có đề mở.
Thực tế cho thấy, có rất nhiều đề văn hấp dẫn, kích thích được hứng thú và khả năng sáng tạo của học sinh: Một bài học ý nghĩa mà cuộc sống đã dành cho em; Vai trò của đồng tiền trong cuộc sống…
Tuy nhiên, công bằng mà nói, những đề như thế không nhiều. Bởi vậy, kể từ khi xuất hiện tiếng nói đầu tiên về “đề mở”, đến nay đã có cả một luồng dư luận bàn về đề mở trong kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn.
“Đề mở” đã trở thành đề tài nóng không chỉ với môn Ngữ văn mà với các môn khoa học xã hội và nhân văn khác như: Lịch sử, Địa lý… 
Và như thế, rất cần thống nhất: thế nào là đề mở, độ mở đến đâu thì có thể chấp nhận được, với đề mở đáp án cần mở như thế nào…
Từ việc rà soát, hệ thống lại những đề Văn được đánh giá cao trong những kỳ kiểm tra/thi gần đây, có thể thấy, ngoài câu hỏi mở xuất hiện trong đề thi tốt nghiệp THPT từ năm 2008 - 2009 trở lại đây (Phát biểu về tác dụng của việc đọc sách,Thói dối trá là biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức trong đời sống xã hội, Suy nghĩ về hành động dũng cảm cứu người của học sinh Nguyễn Văn Nam,…), đề mở môn Ngữ văn chủ yếu được phát hiện thông qua những “bài văn lạ” được đăng tải trên báo giấy hoặc báo điện tử. 
Đề mở trở thành nguyên nhân đầu tiên lý giải sự thành công của những bài viết đó. Rằng nếu không có những đề Văn như thế sẽ không có những bài văn gây “sốc” đến thế, những bài văn đi từ trái tim đến trái tim như thế! (Bài viết của em Hà Minh Ngọc, Nguyễn Trung Hiếu…). 
Ở những đề bài, những câu hỏi được xem là mở đó, không thấy xuất hiện một nhân vật, một tác phẩm văn học cụ thể nào trong chương trình và sách giáo khoa phổ thông, cũng không yêu cầu học sinh phải thực hiện một thao tác nghị luận cụ thể nào…
Nghĩa là, đề mở rất thoáng. Khác với đề bài truyền thống, đề mở không có “mệnh lệnh” chỉ rõ, không bó buộc, khuôn đúc bài viết của học sinh ở một dạng, một kiểu bài, một hoặc một vài tác phẩm thuộc một giai đoạn, một thời kỳ văn học nhất định.
Với đề mở, học sinh có “đất” để thể hiện sự khám phá, tìm tòi đầy sáng tạo của mình. Đề mở thực chất là đề bài theo hướng vận dụng kiến thức đã học vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Trước mỗi đề bài, học sinh căn cứ vào khả năng phát hiện vấn đề, khả năng huy động những kiến thức đã học (bao gồm kiến thức tiếng Việt, đọc văn, làm văn, kiến thức liên môn), khả năng vận dụng ngôn ngữ để trình bày, lý giải vấn đề theo chính kiến của mình.
Với hướng ra đề như thế, để có được những bài viết thuyết phục, ngoài những kiến thức đã học trong chương trình, sách giáo khoa, đáp ứng yêu cầu chuẩn kiến thức - kỹ năng - thái độ, giáo viên cần khuyến khích học sinh tích lũy những hiểu biết mang tính xã hội, cập nhật những vấn đề mang tính thời sự.
Như vậy, đề Văn mở phải mở cả nội dung, tư tưởng và cấu trúc. Không bó buộc vấn đề hỏi trong những tác phẩm văn học trong nhà trường, đề mở hướng đến cả những vấn đề trong thực tiễn, mang tính thời sự, tính ứng dụng cao. Trước những vấn đề đó, người viết được phép thể hiện chính kiến và những sáng tạo riêng, mang tính cá nhân.
Nhưng, đó tuyệt nhiên không phải là những phát ngôn lập dị, những tư tưởng phản động, những ý kiến đi ngược lại quan điểm, đường lối của Đảng và nhà nước, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của người Việt Nam, không phù hợp với đặc trưng tâm lý, lứa tuổi của người viết. Đề mở chấp nhận “cái khác” nhưng không dung hòa với “cái trái”, cái đối lập.
Dù còn phải cân nhắc, điều chỉnh cho phù hợp với định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, mục tiêu của môn Ngữ văn trong nhà trường ngoài việc cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ (trọng tâm là tiếng Việt) và văn học (trọng tâm là văn học Việt Nam), phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; hình thành và phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt, tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mĩ còn tập trung bồi dưỡng tinh thần, tình cảm như tình yêu tiếng Việt, yêu thiên nhiên, gia đình, lòng tự hào dân tộc…
Với chức năng giao tiếp, giáo dục, thẩm mỹ… văn học nói chung và văn học trong nhà trường nói riêng có nhiều thuận lợi trong việc hình thành và phát triển các năng lực chung cũng như góp phần bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và các phẩm chất cao đẹp của người học, “học văn là học cách làm người”. 
Vì thế, dù mở theo hướng nào, dù mở đến mức nào, đề Văn vẫn hướng đến những giá trị muôn đời, nhân bản, nhân văn nhất.
Đề văn mở bao giờ cũng hay, hấp dẫn, kích thích được hứng thú của học sinh, nhưng nói như PGS.TS Đỗ Ngọc Thống, dù “mới mẻ”, “khác lạ”, “mở” đến đâu vãn phải đảm bảo “sự chính xác, tính khoa học, tính thẩm mỹ và yêu cầu giáo dục tư tưởng cho thế hệ trẻ”. 
Đó là những chuẩn mực để theo đó, chúng ta sẽ không bắt gặp những đề văn “vừa yếu về chuyên môn vừa thô tục” (theo GS Nguyễn Minh Thuyết), “mắc sai lầm nghiêm trọng” (theo PGS.TS Văn Giá) như đề thi của Đại học FPT.
Môn Ngữ văn bao gồm 3 phân môn: văn học, tiếng Việt, làm văn. Cả ba phân môn này đều hướng tới việc hình thành và phát triển năng lực đọc hiểu và tạo lập văn bản. 
Nếu lấy chuẩn đầu ra này làm thước đo để kiểm tra, đánh giá trong môn Ngữ văn, thiết nghĩ, không nhất thiết phải đặt mệnh lệnh trong câu hỏi môn Ngữ văn: Hãy phân tích, hãy chứng minh,…
Đề thi môn Ngữ văn không cần thiết phải lặp đi lặp lại theo cấu trúc 2 phần: Phần chung – phần bắt buộc và phần tự chọn và nội dung không nhất thiết gồm 3 câu: tái hiện kiến thức, nghị luận xã hội và nghị luận văn học. 
Cá nhân người viết cho rằng, đổi mới đề thi môn Ngữ văn theo cấu trúc 2 phần đọc hiểu và làm văn là hợp lý. Với phần đọc hiểu, có thể tham khảo cách ra đề thi sau của Nhật Bản (trích theo tài liệu của PISA Việt Nam):
Hai lá thư sau được lấy từ Internet nói về graffiti. Graffiti là nghệ thuật vẽ và viết không cho phép lên tường hoặc nhiều vị trí khác. Tham khảo các lá thư để trả lời các câu hỏi sau:

Tôi đang vô cùng tức giận vì cứ phải tẩy sạch bức tường của trường rồi sơn lại nó tới lần thứ tư sau mỗi lần bị vẽ graffiti. Tính sáng tạo thật sự rất đáng ngưỡng mộ nhưng mọi người cần phải tìm cách để thể hiện bản thân họ mà không gây ra những chi phí phụ trội xã hội.
Tại sao bạn lại phá hỏng uy tín của giới trẻ bằng cách vẽ những bức graffiti lên những nơi nó bị cấm? Những người nghệ sĩ chuyên nghiệp có trưng những bức tranh của họ trên phố không? Thay vào đó, họ tìm kiếm những nhà tài trợ và thu được danh tiếng qua những cuộc trưng bày hợp pháp.
Theo quan điểm của tôi, các tòa nhà, hàng rào và ghế công viên, tự bản thân chúng đã là những tác phẩm nghệ thuật rồi. Thật là thảm hại khi phá hỏng những kiến trúc đó với graffiti và còn gì nữa, đó quả là một hình thức phá hủy tầng ô–zôn. Thật tình, tôi không thể hiểu nổi tại sao những tên tội phạm nghệ thuật đó lại có thể thấy khó chịu khi “những tác phẩm nghệ thuật” của chúng bị xóa đi khỏi tầm nhìn hết lần này sang lần khác.
Helga
Không có lí giải nào đối với khiếu thẩm mĩ. Xã hội có quá nhiều các phương tiện giao tiếp và quảng cáo. Những lô–gô công ty, tên tuổi các cửa hàng. Chúng có được chấp nhận không? Hầu hết là có. Graffiti có được chấp nhận không? Một số ý kiến cho rằng có, một số thì không.
Ai trả giá cho graffiti? Ai là người cuối cùng phải trả giá cho quảng cáo? Chính xác là người tiêu dùng.
Những người dựng nên những bảng quảng cáo có hỏi ý kiến của bạn không? Không. Vậy những người vẽ graffiti có cần phải làm như vậy không? Không phải tất cả chỉ là câu hỏi về sự giao tiếp – tên của bạn, tên của các nhóm và những công trình nghệ thuật lớn trên phố?
Hãy nghĩ tới những bộ quần áo kẻ sọc và kẻ ca–rô xuất hiện trong các cửa hiệu một vài năm trước. Cả đồ trượt tuyết. Các mẫu và màu sắc đều được lấy trực tiếp từ những bức tường bê tông hoa. Thật thú vị là các mẫu và màu sắc này đều được chấp nhận và yêu thích nhưng graffiti có cùng phong cách như vậy thì lại được xem là đáng sợ.
Hiện tại thật là khó khăn đối với nghệ thuật.
Sophia
(Nguồn: Marl Hankala)
Câu hỏi 1: Mục đích của mỗi lá thư trên là:
A. giải thích graffiti là gì.
B. đưa ra một ý kiến về graffiti.
C. chứng minh sự phổ biến của graffiti.
D. cho mọi người biết phải tốn kém như thế nào để tẩy xoá graffiti.

Câu hỏi 2: Tại sao Sôphia lại đề cập tới quảng cáo?
..........................................................................................................
Câu hỏi 3:
Em đồng ý với người viết lá thư nào? Hãy giải thích câu trả lời của em bằngchính ngôn ngữ của mình để đề cập tới những gì được nêu lên trong một hoặc cả hai bức thư.
...........................................................................................................
Câu hỏi 4:
Chúng ta có thể nói về những gì lá thư nói đến (nội dung).
Chúng ta có thể nói về cách thức lá thư được viết (văn phong).
Không đề cập tới việc em đồng thuận với lá thư nào, theo ý kiến của em, lá thư nào tốt hơn?
Hãy giải thích câu trả lời của em về cách thức của một hoặc cả hai lá thư được viết./.
      
Đề mở đòi hỏi hướng dẫn chấm mở. Theo đó, người viết có khoảng trống để đánh giá đúng mức những sáng tạo riêng, những đóng góp riêng của mỗi học sinh khi giải quyết vấn đề đặt ra trong đề bài. 
Để đánh giá chính xác, khách quan, công bằng, khi chấm bài, giáo viên cũng cần linh hoạt. Sẽ không thể tồn tại kiểu đếm ý cho điểm, hoặc tuân thủ cứng nhắc một phương án trả lời. Chấp nhận hơn một phương án trả lời hợp lý để kích thích sự sáng tạo của học sinh cũng là một thay đổi đáng lưu ý.
Với câu hỏi đọc hiểu như trên, hướng dẫn chấm cụ thể được mã hóa như sau :
Hướng dẫn mã hóa câu hỏi 1:
Mức đầy đủ: B. Đưa ra một ý kiến về graffiti.
Không đạt: Các câu trả lời khác hoặc không trả lời.            
Hướng dẫn mã hóa câu hỏi 2:
Mức đầy đủ: Nhận ra rằng đang rút ra một sự so sánh giữa graffiti và quảng cáo. Câu trả lời nhất quán với ý nghĩ rằng quảng cáo là một hình thức hợp pháp của graffiti.
+ Để cho chúng ta thấy rằng quảng cáo có thể mang tính xâm phạm như graffiti.
+ Bởi vì một số người nghĩ rằng quảng cáo cũng xấu xí, là cách vẽ phun mực.
+ Cô ấy đang nói rằng quảng cáo chỉ là một hình thức hợp pháp của graffiti.
+ Cô ấy cho rằng quảng cáo cũng giống với graffiti.
+ Bởi vì họ không cần sự cho phép của bạn để dựng các bảng quảng cáo.[ngầm so sánh giữa quảng cáo và graffiti].
+ Bởi vì nó là một hình thức trưng bày khác.
+ Bởi vì những người quảng cáo dán các tấm bảng quảng cáo lên tường và cô ấy cho rằng graffiti cũng thế.
+ Vì nó cũng nằm trên tường.
+ Bởi vì trông chúng cũng xấu hoặc đẹp như nhau mà thôi.
+ Cô ấy đề cập tới quảng cáo vì nó được chấp nhận không như graffiti [Sự tương đồng của graffiti và quảng cáo được ngầm nhắc tới bằng cách đưa ra những thái độ đối lập giữa hai thứ đó].
– Nhận ra rằng đề cập tới quảng cáo là một cách thức để bảo vệ graffiti.
+ Để chúng ta có thể thấy được rằng thật ra thì graffiti cũng hợp pháp.
Không đạt: 
- Đưa ra câu trả lời chưa đầy đủ hoặc mơ hồ:
+ Đó là một cách nêu lên quan điểm của cô ấy.
+ Vì cô ấy muốn thế, cô ấy đề cập tới nó như là một ví dụ.
+ Đó là một cách thức/chiến lược.
+ Các lô–gô của công ty và tên các cửa hiệu.
– Chỉ ra ý hiểu không chính xác đối với tài liệu hoặc đưa ra một câu trả lời không hợp lí hoặc lạc đề.
+ Cô ấy mô tả về graffiti.
+ Bởi vì mọi người vẽ graffiti lên chúng.
+ Graffiti là một loại hình quảng cáo.
+ Bởi vì graffiti là quảng cáo đối với một người hoặc nhóm người nào đó. [So sánh sai hướng tức là gfraffiti là một dạng của quảng cáo]
Không trả lời.        
Hướng dẫn mã hóa câu hỏi 3:
Mức đầy đủ: Giải thích quan điểm bằng cách tham khảo tới nội dung của một hoặc cả hai lá thư. Có thể đề cập tới vị trí chung của người viết (nghĩa là ủng hộ hoặc phản đối) hoặc một chi tiết trong lập luận của cô ấy. 
Diễn giải lập luận của người viết phải phù hợp. Lời giải thích có thể là một cách thức diễn giải khác một phần văn bản nhưng không phải là toàn bộ hoặc chép lại mà không thêm thắt hoặc thay đổi gì:
+ Em đồng ý với Helga. Graffiti là bất hợp pháp và phá hoại các công trình công cộng.
+ Helga bởi vì em phản đối graffiti [Câu trả lời tối giản].
+ Sophia. Em nghĩ thật là một sự đạo đức giả đối với các nghệ sĩ graffiti khi sản sinh ra hàng triệu sao chép từ thiết kế của họ.
+ Em phần nào đồng ý với cả hai. Sẽ không hợp pháp khi vẽ lên tường ở nơi công cộng nhưng những người này vẫn nên được có cơ hội thực hiện những ý tưởng của họ ở một nơi nào đó.
+ Sophia, bởi vì cô ấy quan tâm tới nghệ thuật.
+ Em đồng ý với cả hai. Graffiti là xấu nhưng quảng cáo cũng vậy vì thế em không muốn trở thành đạo đức giả.
+ Helga, bởi vì em không thực sự thích graffiti cho lắm nhưng em hiểu rằng quan điểm của Sophia và vì sao cô ấy không muốn buộc tội những người làm việc mà họ tin tưởng vào đó.
+ Helga, bởi vì thật đáng tiếc khi hủy hoại uy tín của giới trẻ chẳng để làm gì cả. [Trường hợp ở ranh giới: một cách trích dẫn trực tiếp nhưng đính vào đoạn văn khác].
+ Sophia, đúng là các mẫu và màu sắc được đánh cắp từ graffiti xuất hiện trong các của hiệu và được mọi người chấp nhận, trong khi họ lại xem graffiti là đáng sợ. [Lời giải thích là một cách kết hợp của việc diễn giải bằng cách khác, nhưng vận dụng chỉ ra rằng nó đã được hiểu chính xác].
Không đạt:
– Ủng hộ cả hai quan điểm nhưng lại chỉ giới hạn trong những trích dẫn trực tiếp (có hoặc không có dấu trích dẫn).
+ Helga bởi vì em đồng ý rằng mọi người cũng nên tìm cách khẳng định bản thân mình bằng cách không gây nên các phụ trội xã hội.
+ Helga. Tại sao lại hủy hoại uy tín của giới trẻ?
– Đưa ra câu trả lời không đầy đủ hoặc mơ hồ.
+ Sophia, bởi vì em nghĩ rằng lá thư của Helga không ủng hộ lập luận của cô ấy với nhiều lí do (Sophia so sánh lập luận của cô ấy với quảng cáo v.v). [Các câu trả lời về phong cách hoặc chất lượng của lập luận].
+ Helga, bởi vì cô ấy sử dụng nhiều chi tiết hơn. [Các câu trả lời về phong cách hoặc chất lượng của lập luận].
+ Em đồng ý với Helga [Thiếu ý kiến bảo vệ cho ý kiến này].
+ Cả hai, bởi vì em có thể hiểu được Helga đến từ đâu. Nhưng Sophia  cũng đúng. [Thiếu ý kiến bảo vệ cho ý kiến này]
– Đưa ra ý hiểu không chính xác đối với tài liệu hoặc đưa ra câu trả lời không hợp lí hoặc không chính xác:
+ Em đồng ý với Helga hơn. Sophia có vẻ như là không chắc với những suy nghĩ của cô ấy.
+ Helga, bởi vì cô ấy cho rằng một số người có tài năng. [Diễn giải nhầm ý kiến lập luận của Helga].
– Không trả lời.
Hướng dẫn mã hóa câu hỏi 4 :
Mức đầy đủ: Giải thích ý kiến đề cập tới văn phong hoặc mẫu của một hoặc cả hai lá thư. Nhắc tới tiêu chuẩn như văn phong, cấu trúc của lập luận, tính thuyết phục của lập luận, giọng điệu, cách tiếp cận, chiến lược để thuyết phục được người xem. Phải chứng minh được cụm từ “các lập luận tốt hơn”:
+ Lá thư của Helga. Cô ấy đưa ra rất nhiều điểm khác nhau để cân nhắc và đề cập đến những tổn hại mà các nghệ sĩ graffiti gây ra mà em cho rằng rất quan trọng.
+ Lá thư của Helga rất có hiệu quả theo cách thức cô ấy chỉ ra trực tiếp các nghệ sĩ graffiti.
+ Em nghĩ rằng lá thư của Helga thì tốt hơn. Em thấy lá thư của Sophia có phần thiên vị.
+ Em nghĩ rằng Sophia đưa ra một lập luận rất vững chắc nhưng cấu trúc của Helga thì tốt hơn.
+ Sophia, bởi vì cô ấy không hướng tới bất kì một ai. [Giải thích lựa chọn của em đó về chất lượng của nội dung. Giải thích dễ hiểu khi dùng từ “Không có ý chống lại ai cả”].
+ Em thích lá thư của Helga. Cô ấy hoàn toàn làm chủ được việc nêu rõ ý kiến của mình.
Không đạt:
– Đánh giá về mặt đồng thuận hoặc không đồng thuận với vị trí của người viết, hoặc chỉ là diễn đạt nội dung theo cách khác:
+ Helga. Em đồng ý với mọi điều cô ấy nói.
+ Lá thư của Helga tốt hơn. Đúng như cô ấy nói, graffiti quá tốn kém và phí phạm.
– Đánh giá không đưa ra lời giải thích hợp lí:
+ Lá thư của Sophia là lá thư tốt nhất.
+ Lá thư của Sophia dễ đọc hơn.
+ Helga có một lập luận tốt hơn.
– Chỉ ra ý hiểu không chính xác về nội dung tư liệu và đưa ra câu trả lời không phù hợp hoặc lạc đề:
+ Lá thư của Helga được viết tốt hơn. Cô ấy từng bước giải quyết các vấn đề và sau đó dựa trên cơ sở đó, đưa ra lời kết hợp lí.
+ Sophia, bởi vì cô ấy giữ đúng vị trí của mình từ đầu đến hết lá thư.
– Không trả lời
Đối với câu hỏi đọc hiểu, văn bản nên lựa chọn là những văn bản ngắn, có giá trị đích thực cả về tư tưởng và văn phong, nằm ngoài chương trình, sách giáo khoa. 
Bởi lẽ, văn bản trong chương trình quá hữu hạn so với số lượng tác phẩm khổng lồ mà học sinh sẽ tiếp xúc. Như thế sẽ tránh được việc luyện thi, học lệch, học tủ, ghi nhớ máy móc những kiến thức đã được học.
Và như thế, sẽ không còn chuyện học sinh trả bài tốt, viết được những bài văn được điểm cao nhưng lại rất ngu ngơ khi đọc và viết những văn bản nhật dụng như: tờ hướng dẫn sử dụng thuốc, tấm vé xe buýt…
Sẽ không còn chuyện say mê những văn hóa phẩm “đồi trụy”, những truyện tranh đầy rẫy những cảnh đấm đá, thụi bịch, những lời lẽ vô văn hóa…
Câu hỏi phần làm văn cũng nên thay đổi cách hỏi truyền thống: Hãy phân tích, hãy chứng minh như trên đã nói. Câu hỏi không đánh đố học sinh mà gồm các phần:  phần nêu vấn đề, phần nêu những gợi ý, hướng dẫn cần thiết để học sinh làm bài, phần kiểm tra bài viết. Có thể tham khảo cách ra đề văn học sau của Hoa Kỳ (Trích theo Đề Văn và việc rèn luyện năng lực viết sáng tạo – PGS.TS Đỗ Ngọc Thống):
“Chọn một truyện bạn đã đọc trong năm nay. Tìm một sự kiện trong truyện và viết bài văn tự thuật về sự vật này theo quan điểm của nhân vật trong đó. Bài tự thuật của bạn cần chỉ ra tại so sự kiện này lại có ý nghĩa với nhân vật (người kể).
Gợi ý:
 - Lý lẽ về chăn màn trong “Vật sử dụng hàng ngày”.
 - Johnny đang hỏi khi Mattie ở ngoài trong tác phẩm “Vật sử dụng hàng ngày””.
 Với đề hiện thực, có thể tham khảo đề thi sau:
 “Hãy viết một câu chuyện tự kể về một kinh nghiệm quan trọng đã trải qua.
 Gợi ý:
 - Một sự kiện buồn cười, kinh hoàng hoặc buồn bã trong tuổi thơ của bạn.
- Một thời điểm quyết định trong cuộc đời bạn.”
Theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, việc kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn đang có những chuyển biến tích cực, góp phần đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo.
Trong xu hướng chung chuyển đổi từ đánh giá kiến thức kỹ năng sang đánh giá năng lực, đánh giá để xếp loại sang đánh giá để phát triển học tập, từ đánh giá một chiều sang đánh giá đa chiều, đổi mới cách ra đề - đề mở được xem là “mắt xích trọng yếu” (Chữ dùng của PGS.TS Đỗ Ngọc Thống).
Hi vọng, với cách làm đó, môn Ngữ văn sẽ giữ được vị thế “số một” trong trường phổ thông, sẽ có thêm nhiều học sinh yêu Văn, say Văn và giỏi Văn.
Phùng Thị Vân Anh (Vụ GDTX)

ĐỀ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT MÔN VĂN NĂM 2014 - theo cấu trúc Đọc hiểu - Làm văn


Phần I. Đọc – hiểu văn bản:   (5.0 điểm)
        1. Đọc và trả lời các câu hỏi sau:
“Ai có việc ở xa về vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa dệt vải, chẻ củi hay cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Người ta thường nói: nhà Pá Tra làm thống lí, ăn của dân nhiều, đồn Tây lại cho muối về bán, giàu lắm, nhà có nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng. Thế thì con gái nó có bao giờ phải xem cái khổ mà biết khổ, mà buồn. Nhưng rồi hỏi ra mới rõ cô ấy không phải con gái Pá Tra: cô ấy là vợ A Sử, con trai thống lí Pá Tra
  1. Đoạn văn sau nói về vấn đề gì ? Hãy đặt tên cho đoạn trích (1.0 điểm)
  2. Chỉ ra nghệ thuật đặc sắc trong đoạn văn trên (1.0 điểm)
2. “Bước vào thế kỉ mới,nước ta sẽ hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới….
 nếp nghĩ sùng ngoại hoặc bài ngoại quá mức đều sẽ cản trở sự phát triển của đất nước”
                                       (Vũ Khoan, Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới
                                    Trích trong Một góc nhìn tri thức NXB Trẻ- TPHCM 2002).
     Đoạn văn trên của Vũ Khoan đang nói đến thói quen nào của người ViệtNam?
 Nếp nghĩ sùng ngoại, hay bài ngoại sẽ ảnh hưởng gì đến sự phát triển của đất nước ?                                                                                               (2.0 điểm)
3. Trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi, có lời thoại:
  “Khôn! Việc nhà nó thu được gọn thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia thế, đặng bề nước non”.
       Lời nói trên của nhân vật nào, nói về những ai, thể hiện thái độ gì với người được nói tới?   (1.0 điểm)
Phần II. Phần làm văn:   (5.0 điểm)
                       Học sinh được chọn 1 trong 2 câu sau
1.  Trình bày suy nghĩ về ý kiến:
 “Kẻ cơ hội thì nôn nóng tạo ra thành tích, người chân chính thì kiên nhẫn lập nên thành tựu” (5.0 điểm
2. Những suy nghĩ và đánh giá của anh (chị) về người vợ nhặt – người đàn bà không tên  trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân   (5.0 điểm)
Tuyensinh247 tổng hợp


Thi TN THPT 2014: Đổi mới cấu trúc đề

Ôn thi theo cách ra đề mới

Những thay đổi về cách thức ra đề thi môn văn năm nay sẽ kéo theo những thay đổi đáng kể về việc ôn tập và tập dượt làm bài.

Ôn thi theo cách ra đề mớiGiáo viên Trường THPT Nhân Việt (TP.HCM) ôn tập môn văn cho học sinh lớp 12 - Ảnh: Đào Ngọc Thạch
Theo ghi nhận của Thanh Niên, sau những khẳng định của Bộ GD-ĐT về những đổi mới trong ra đề thi môn ngữ văn, các giáo viên cho rằng việc ôn thi chắc chắn sẽ có những chuyển hướng để phù hợp với yêu cầu mới. Tuy nhiên, việc có một văn bản hướng dẫn cụ thể từ phía Bộ vẫn là điều mà các nhà trường đang mong đợi.
Rèn kỹ năng đọc hiểu môn văn
Bà Nguyễn Thị Kim Anh, giáo viên Trường THPT Phan Huy Chú (Hà Nội), cho rằng hiện nay học sinh (HS) có thể học thuộc những ghi nhớ về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm văn học và tiểu sử nhà văn, nhưng không mấy khi được tự đọc, ngấm kỹ tác phẩm và có những cảm nhận thực sự là của mình. Do vậy, với cách ra đề mới, theo bà Kim Anh, sẽ buộc phải thay đổi cách học văn, sẽ phải dành thời gian thực hành các hoạt động giao tiếp, học trò được thảo luận (nói và nghe) về một tác phẩm mà mình yêu thích. Có thêm những văn bản, tác phẩm do giáo viên và cả HS giới thiệu...
Bà Phạm Thị Hà Thanh, Trường THPT Lê Quý Đôn - Hà Đông (Hà Nội), cũng khẳng định: “Giáo viên sẽ phải tích cực đưa các văn bản khác vào giờ học để rèn cho HS kỹ năng đọc hiểu. Giáo viên cũng sẽ phải ra những đề văn theo hình thức mới và thời lượng 120 phút để HS quen dần”.
Theo bà Đoàn Thị Hải Lý, Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa (TP.HCM), cách kiểm tra kiểu PISA có những câu hỏi mở, đưa ra những tình huống trong cuộc sống để HS thể hiện quan điểm cá nhân, yêu cầu suy ngẫm. Vì thế, nếu phần đọc hiểu của đề thi tốt nghiệp môn văn dựa trên yêu cầu về cách ra đề của PISA, HS phải củng cố các kỹ năng trên. 
Bà Phạm Thị Huệ, chuyên viên về môn văn, Sở GD-ĐT Nam Định, tư vấn: “HS cần rèn luyện thói quen đọc, đọc có chọn lọc, biết hệ thống những gì đã đọc để tích lũy kiến thức tác phẩm, phải ghi nhớ chính xác những kiến thức đó”.
Tập trung phần viết môn ngoại ngữ
Ngay từ khi có thông tin đề thi ngoại ngữ năm nay có 2 phần trắc nghiệm và tự luận, nhiều trường THPT tại TP.HCM đã khẩn trương ôn tập cho HS theo hướng thi này.
Bà Đặng Thị Thúy Ái, Phó hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Văn Linh (Q.8), cho biết: “Nhiều năm nay, với HS lớp 12, trường chỉ chú trọng việc rèn kỹ năng làm bài trắc nghiệm. Khoảng giữa học kỳ 2 này, chúng tôi phải thay đổi cách dạy cũng như ôn tập để giúp HS thích ứng với đề thi tốt nghiệp THPT sắp tới”.
 Hiệu trưởng một trường THPT tại Q.3 cho rằng việc thay đổi này khiến HS gặp khó khăn vì đến gần cuối năm học mới biết thông tin. Hiệu trưởng này cho biết vì từ trước đến giờ phần đông HS chủ yếu chỉ lo học, ôn theo kiểu bài trắc nghiệm nên hiện nay giáo viên và HS chạy đua theo cách ôn, dạy mới, rèn phần tự luận.
Bà Trần Thị Kim Quy, Hiệu phó Trường THPT Thanh Bình (Q.Tân Bình) thông tin: “Với tình hình như hiện nay, những môn không có sự thay đổi, sau khi có danh sách đăng ký, nhà trường tập trung vào củng cố kiến thức và làm cho HS quen với đề thi của những năm trước. Riêng 2 môn ngữ văn và tiếng Anh thì chưa lên được kế hoạch ôn tập cụ thể”.
Giáo viên cần ôn gì cho học sinh ?
PGS Đỗ Ngọc Thống, Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học, Bộ GD-ĐT, đưa ra các gợi ý ôn tập môn văn.
Về năng lực tiếp nhận văn bản - phần đọc hiểu, thứ nhất giáo viên phải ôn cho HS thế nào là đọc hiểu văn bản: nội dung chính, thông tin quan trọng, ý nghĩa của văn bản. Thứ hai là phải hiểu từ ngữ, cú pháp, chấm câu, hình thức biểu tượng, ký hiệu ngôn ngữ... Ví dụ như hỏi một từ trong đoạn văn đó có ý nghĩa gì cũng là một cách kiểm tra đọc hiểu. Thứ ba là nhận ra và thấy tác dụng của một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản, không chỉ là các biện pháp tu từ. HS không chỉ phát hiện mà còn thấy được tác dụng của biện pháp nghệ thuật, cao hơn là nêu được ý nghĩa giá trị của văn bản đó chứ không chỉ nội dung chính. Tiếp theo là ôn cho HS về kỹ năng đọc hiểu: Cách hiểu có đúng không, hướng học sinh tới cảm xúc, cảm tưởng sau đọc hiểu văn bản.
Về phần tạo lập văn bản (phần viết), giáo viên cần chú ý ôn luyện cho HS có tri thức về văn bản - kiểu đoạn, cấu trúc, quá trình nhận thức đúng nhiệm vụ và yêu cầu của đề bài. Trang bị cho HS khả năng viết các loại văn bản phù hợp với đối tượng, tình huống giao tiếp.  
Tuệ Nguyễn (ghi)
Ý kiến
“Học sinh hiện nay học rất nhiều, ít có thời gian đọc báo, xem ti vi. Vì vậy, đề thi cũng đừng nên chọn những vấn đề nghị luận xã hội to tát, xa rời thực tế khiến HS khó hiểu, không cảm nhận được”. (Thạc sĩ Hà Thị Kim Sa, Hiệu trưởng Trường THCS-THPT Hồng Hà, TP.HCM)
“Thông tin đề thi sẽ chọn một tác phẩm bên ngoài sách giáo khoa là rất hay. Làm cách này thì HS cần phải học cách giải quyết vấn đề mới làm được, ai học tủ coi như không làm được bài”. (Hồ Hoài Khanh, giáo viên Trường THPT Nhân Việt, Q.Tân Phú, TP.HCM) 
“Tổ ngữ văn vẫn đang chờ văn bản hướng dẫn của Bộ GD-ĐT. Thời gian làm bài còn 120 phút thì cấu trúc đề thi sẽ như thế nào đặc biệt là hình thức, nội dung của phần đọc hiểu - điểm mới của đề thi năm nay”. (Trần Thị Kim Quy, Hiệu phó Trường THPT Thanh Bình, TP.HCM)
 “Em nói thiệt là trong thời điểm này tụi em có rất nhiều lo lắng xung quanh kỳ thi. Nếu muốn thay đổi gì thì cần có thời gian, ít ra đầu năm học thông báo để tụi em còn chuẩn bị ôn tập, học theo. Chứ gần đến thi mà cứ đổi mới hoài thì càng khiến tụi em hoang mang hơn”. (Thanh Thảo, HS lớp 12CA2 Trường THPT Nguyễn Khuyến, TP.HCM)
 Minh Luân - Bích Thanh (ghi)
Tuệ Nguyễn - Minh Luân - Bích Thanh