Hiển thị các bài đăng có nhãn Đạo đức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đạo đức. Hiển thị tất cả bài đăng

Vô tâm hay vô cảm


Câu 3: trong đề thi TS lớp 10 tại TP.HCM 2012-2013 (3 điểm)
            Trong loạt bài trên báo Tuổi trẻ chủ nhật bàn về thế hệ gấu bông có đề cập hai hiện tượng:
1.      Một cô bé mười lăm tuổi, được mẹ chở đi đánh cầu lông. Xe hai mẹ con bị va quẹt, đồ đạc trên xe văng tung tóe. Người mẹ vội vàng gom nhặt, vài người đi đường cũng dừng lại phụ giúp còn cô bé thờ ơ đứng nhìn. Đợi mẹ nhặt xong mọi thứ, cô bé leo lên xe và thản nhiên dặn: “Lát về mẹ nhớ mua cho con li chè!”.
2.      Một cậu học sinh khi được hỏi về ca sĩ nổi tiếng mà cậu hâm mộ, cậu đã trả lời rất rành mạch về cách ăn mặc, sở thích của ca sĩ đó. Nhưng khi được hỏi về nghề nghiệp, sở thích của cha mẹ cậu, cậu ta ấp úng, không trả lời được.
Là người con trong gia đình, em hãy trình bày suy nghĩ về hai hiện tượng trên qua một bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi).
-----------------------------------------------------------
Học sinh có thể làm nhiều cách khác nhau miễn là có đủ một số ý theo quy định. Sau đây là một cách làm cụ thể:
·        Mở bàiĐặt vấn đề: Sự vô tâm của thế hệ gấu bông đã làm giật mình các bậc cha mẹ. Hai hiện tượng mà báo Tuổi trẻ Chủ nhật đã nêu là khá phổ biến. Đó cũng là thể hiện của sự suy tàn về chữ hiếu và vi phạm nghiêm trọng đạo đức con người Á Đông. Hai hiện tượng trên như một lời cảnh tỉnh đối với bổn phận làm con của chúng ta.
·        Thân bài:
Biểu hiện: Giải thích nội dung của hai hiện tượng trên nói lên sự vô tâm của thế hệ trẻ đối với những người thân yêu nhất, có công nuôi dưỡng và bảo bọc chúng ta từ khi mới sinh ra – đó là cha mẹ, ông bà, thầy cô giáo, ...Hình ảnh một em bé thờ ơ khi mẹ đi nhặt đồ và hồn nhiên nói: “Lát về mẹ nhớ mua cho con li chè!” cũng như hình ảnh một cậu học sinh rất rành về sở thích của ca sĩ cậu yêu thích mà chẳng biết gì về sở thích, nghề nghiệp, tâm trạng và niềm đau của bố mẹ mình. Điều đó đã tạo nên sự phản cảm mạnh mẽ trong tâm hồn người đọc.
+ Nguyên nhân:
_ Giới trẻ thường chỉ quan tâm tới cuộc sống và sở thích của mình, đó là một trong những biểu hiện của thói ích kỉ.
_ Bậc cha mẹ thiếu sâu sát, thiếu quan tâm đúng mực đến hành vi, sở thích và nhân cách của con.
_ Nhà trường và xã hội thiếu phương pháp giáo dục đúng mực, thiếu những hoạt động để rèn luyện nhân cách của học sinh và gắn kết con cái với cha mẹ.
_ Nhà trường và gia đình còn thờ ơ với việc giáo dục cẩn trọng về đạo đức làm người và những đức tính như: hiếu thảo, lòng biết ơn, lòng nhân ái, tính vị tha, khả năng chia sẻ với những người thân yêu, ...        
                  + Hậu quả:
      _ Nếu không khắc phục được những hiện tượng này, xã hội càng ngày càng trở nên băng hoại về đạo đức và sự vô cảm càng ngày càng trở nên phổ biến.
      _ Những hiện tượng trên là nhát dao cứa vào lương tâm của những người Việt Nam có đạo đức, là nỗi đau dai dẳng cho thế hệ cha anh.
      _ Những hiện tượng trên là sự xói mòn về đạo đức, là sự chạy theo những nét đẹp phù phiếm và hư ảo, bỏ quên những nét đẹp chân thật và những tình cảm thiêng liêng.
+ Cách khắc phục:
_ Chủ quan: bản thân mỗi con người phải ý thức về trách nhiệm của mình đối với gia đình và xã hội, rèn luyện lòng nhân ái, lòng vị tha từ những việc nhỏ nhặt nhất.
_  Khách quan: gia đình, nhà trường và xã hội nên chú trọng hơn về việc giáo dục nhân cách cho học sinh, dạy học sinh biết quan tâm tới những người thân yêu, gần gũi với mình, dạy học sinh biết cảm nhận vẻ đẹp cùa lòng vị tha, sự chia sẻ, đồng cảm và lối sống có trách nhiệm.
_ Lên án mạnh mẽ lối sống thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, ích kỉ.
·        Kết bài: Hai hiện tượng trên đã đánh thức lương tâm của những người đã từng mắc vào những lỗi lầm tương tự. Đó là hồi chuông cảnh tỉnh đối với thế hệ trẻ nói riêng và đối với tất cả những người Việt Nam.

Đề- Đáp án gợi ý Văn Khối D Đại học 2010

ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2010
Môn: NGỮ VĂN; Khối: D
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề
PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu I. (2,0 điểm)
Trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân , việc nhân vật Tràng “nhặt” được vợ đã khiến cho những ai ngạc nhiên? Sự ngạc nhiên của các nhân vật đó có ý nghĩa như thế nào về nội dung và nghệ thuật?
Câu II. (3,0 điểm)
Đạo đức giả là một căn bệnh chết người luôn nấp sau bộ mặt hào nhóang.
Từ ý kiến trên anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về sự nguy hại của đạo đức giả đối với con người và cuộc sống.
PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu III.a hoặc III.b)
Câu III.a. Theo Chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
Cảm nhận anh/chị về đoạn thơ sau:
những tiến đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo chòang đỏ gắt
li-la li-la li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vần trăng chếnh chóang
trên yên ngựa mỏi mòn

Tây Ban Nha
hát nghêu ngao
bỗng kinh hòang
áo chòang bê bết đỏ
Lor-ca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như người mộng du

tiếng ghi ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi ta ròng ròng
máu chảy
(Đàn ghi ta của Lor-ca – Thanh Thảo, Ngữ văn 12,
Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 164-165)
Câu III.b. Theo Chương trình Nâng cao (5,0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về chi tiết “bát cháo hành ” mà nhân vật thị Nở mang cho Chí Phèo (Chí Phèo – Nam Cao) và chi tiết “ấm nước đầy và nước hãy còn ấm” mà nhân vật Từ dành sẵn cho Hộ (Đời Thừa – Nam Cao).
BÀI GIẢI GỢI Ý
Câu I. (2,0 điểm)
Thí sinh nên trả lời câu hỏi này dưới hình thức một văn bản ngắn.
Đây là một số nội dung nên có :
* Việc anh Tràng nhặt được vợ gây ngạc nhiên cho rất nhiều người:
- Người dân xóm ngụ cư khi họ thấy anh Tràng đưa cô vợ nhặt về nhà.
- Bà cụ Tứ, mẹ anh Tràng, ngạc nhiên vì sự xuất hiện của cô vợ nhặt tại nhà mình (đây là một cô gái trẻ, lại không phải là con cái Đục, lại gọi mình bằng U).
- Chính bản thân anh Tràng. Anh cũng không ngờ chỉ tầm phơ tầm phào có vài bận mà thành vợ thành chồng. Nhìn chị ngồi trên giường mà anh cứ ngỡ là không phải. Thậm chí đến sáng hôm sau, anh cứ ngỡ từ trong giấc mơ bước ra.
* Về mặt nghệ thuật, việc anh Tràng nhặt vợ trở thành một tình huống truyện độc đáo, được đặt thành tựa đề của truyện. Điều đó tạo nên yếu tố kịch tính, éo le, hấp dẫn, lôi cuốn đối với người đọc. Có lẽ, đây là lần đầu tiên chi tiết “nhặt vợ” được xuất hiện trong văn học Việt Nam.
* Về mặt nội dung, việc anh Tràng nhặt vợ thực chất là việc chấp nhận cưu mang, đùm bọc một người đang ở vào hoàn cảnh tận cùng tuyệt vọng của sự đói khổ. Do đó nó đã góp phần quan trọng vào việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm: trong hoàn cảnh cận kề cái đói, cái chết, những người đói không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến sự sống, yêu thương, đùm bọc, khát khao xây dựng hạnh phúc gia đình.
Câu II. (3,0 điểm)
Thí sinh có thể trình bày theo những cách thức riêng. Tuy nhiên, bài viết cần đáp ứng những yêu cầu cơ bản của đề bài :
- Văn bản ngắn có độ dài khoảng 600 từ.
- Trình bày ý kiến của người viết về sự nguy hại của đạo đức giả đối với con người và cuộc sống.
Sau đây là một số gợi ý :
* Giải thích đạo đức giả là gì và nội dung của câu nói : Đạo đức giả là một căn bệnh chết người luôn nấp sau bộ mặt hào nhoáng để khẳng định nội dung của câu nói đề cập đến sự nguy hại của thói đạo đức giả. Đạo đức giả là tình trạng con người bề ngoài tỏ ra đạo đức nhưng trong ý nghĩ và trong lòng chứa nhiều âm mưu, thủ đoạn và sự gian trá. Đây là một căn bệnh chết người bởi vì nó góp phần hủy hoại đời sống con người, nó góp phần đẩy những đời người vào tình huống đau đớn và trớ trêu, vào những nghịch cảnh đầy oan khiên.
* Phân tích và chứng minh để làm rõ tác hại to lớn của đạo đức giả đối với con người và cuộc sống.
+ Hủy hoại phẩm chất tốt đẹp của con người: kẻ đạo đức giả thường là người độc ác, nham hiểm, giả dối.
+ Hủy hoại cuộc sống:
_ Biến kẻ đạo đức giả trở thành là một con người bệnh hoạn, nguy hiểm: bên trong một đàng, bên ngoài một nẻo; thực chất con người và biểu hiện bề ngoài khác biệt nhau…
_ Gia đình và xã hội không còn lòng tin cậy, sự hòa hợp, bình an. Mọi người luôn phải dè chừng, cảnh giác và đối phó lẫn nhau. Chính vì vậy, từ xưa đến nay, người ta luôn lên án sự giả dối: miệng nam mô, bụng một bồ dao găm; bề ngoài thơn thớt nói cười mà trong nham hiểm giết người không dao…
* Bài học cần rút ra:
+ Nhận thức sự nguy hại của đạo đức giả, lối sống đạo đức giả và lên án nó.
+ Khẳng định sự cần thiết và giá trị của lối sống trung thực, chân thật.
+ Dũng cảm chấp nhận trả giá để sống trung thực, chân thật.
Câu IIIa: Chương trình chuẩn
Cảm nhận về đoạn thơ trong bài thơ "Đàn ghi ta của Lor-ca" của Thanh Thảo
A/ Yêu cầu hình thức : Thí sinh biết làm bài văn nghị luận văn học, dạng phân tích và bình giảng một đoạn thơ để cảm nhận giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật, bài làm có kết cấu chặt chẽ, văn viết trôi chảy, diễn đạt ý sáng rõ, giàu cảm xúc, không mắc lỗi dùng từ, đặt câu, chính tả.
B/ Yêu cầu nội dung : Trên cơ sở nắm chắc kiến thức về tác giả Thanh Thảo và bài thơ "Đàn ghi ta của Lor-ca", thí sinh trình bày được những ý chính sau :
1/ Thanh Thảo là nhà thơ trẻ tài hoa, khẳng định tài năng trong kháng chiến chống Mĩ. Sau 1975, nhất là trong thời kỳ đổi mới văn học, ông có nhiều nỗ lực trong cách tân thơ Việt với xu hướng đào sâu vào cái tôi nội cảm qua hình thức thơ tự do, hiện đại bằng những hình ảnh và ngôn từ mới mẻ. Thơ ông giàu chất suy tư, mãnh liệt, phóng túng, ít nhiều nhuốm màu sắc tượng trưng, siêu thực. Bài thơ "Đàn ghi ta của Lor-ca" trích trong tập thơ "Khối vuông Ru-bic" (1985) của ông đã thể hiện sự ngưỡng mộ, ca ngợi tinh thần đấu tranh cho tự do và khát vọng cách tân nghệ thuật của nhà thơ G. Lor-ca, một nghệ sĩ tài hoa sáng chói của văn học Tây Ban Nha ở đầu thế kỉ 20. Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng Lor-ca trong bài thơ cứ làm ám ảnh, day dứt trong tâm hồn người đọc.
2/ Hình tượng G. Lor-ca :
a. Sau khi đề từ bằng câu thơ như lời di chúc của thiên tài Lor-ca "Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn", nhà thơ Thanh Thảo đã đưa người đọc về hình tượng người nghệ sĩ - chiến sĩ Lor-ca. Cần phát hiện và cảm nhận về những hình ảnh thơ giàu chất dân gian của xứ sở đấu bò tót "áo choàng đỏ gắt" tượng trưng cho người chiến sĩ tuyên chiến, thách thức với chế độ độc tài, phát xít Phrăng-cô của Tây Ban Nha lúc bấy giờ, "trên yên ngựa mỗi mòn" gợi lên hình ảnh người nghệ sĩ dân gian của bộ tộc Bô-hê-miêng (Digan) sống lang thang du mục, cô độc, say mê cái đẹp "với vầng trăng chếnh choáng". Xuyên suốt đoạn thơ cũng như cả bài thơ, hình ảnh "đàn ghi ta", "tiếng đàn" : tượng trưng cho nghệ thuật thơ ca của đất nước Tây Ban Nha, nghệ thuật thơ ca, tiếng lòng của Lor-ca.
b. Hình tượng người nghệ sĩ tài hoa Lor-ca đang "hát nghêu ngao" trên đất nước Tây Ban Nha, bỗng bị bọn độc tài lén lút thủ tiêu thật kinh hoàng với hình ảnh "áo choàng bê bết đỏ". Nhưng người nghệ sĩ, chiến sĩ ấy vẫn ngẩng cao đầu, xem cái chết nhẹ tợ lông hồng : "Lor-ca bị điệu về trường bắn, chàng đi như người mộng du".
c. Nhà thơ Thanh Thảo trong niềm cảm xúc đầy ngưỡng mộ, tiếc thương cho "tiếng ghi ta", tiếng lòng của Lor-ca. "Tiếng ghi ta nâu" : Lời trầm lắng yêu thương. "Tiếng ghi ta xanh biết mấy": biết bao hi vọng trong đấu tranh cho tự do và cách tân nghệ thuật. "Tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan" : Tất cả không còn nữa. Thật là bàng hoàng, tức tưởi, thống thiết : "Tiếng ghi ta ròng ròng, máu chảy".
Đó là tấm lòng thành của nhà thơ Thanh Thảo qua cái nhìn "biệt nhãn liên tài" đối với nghệ sĩ thiên tài Lor-ca.
3/ Qua nghệ thuật thơ mới mẻ, hiện đại mang màu sắc tượng trưng, siêu thực, với ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính, hình ảnh thơ giàu chất liệu văn hoá dân gian của đất nước Tây Ban Nha, nhà thơ Thanh Thảo đã ca tụng thơ ca và nhân cách nghệ sĩ cao đẹp của G. Lor-ca, thật hay, đặc sắc.
Câu III.b. Theo Chương trình Nâng cao
* Giới thiệu tác giả - tác phẩm và chi tiết nghệ thuật :
I. Nội dung :
1. Hoàn cảnh nhân vật :
- Chí Phèo (trong tác phẩm cùng tên) và Hộ (Đời Thừa) là hai nhân vật điển hình trong sáng tác của Nam Cao trước cách mạng tháng Tám:
+ Chí Phèo : hình ảnh người nông dân bị đẩy vào con đường bần cùng, bế tắc.
+ Hộ : hình ảnh người trí thức nghèo tiểu tư sản bị xã hội thực dân nửa phong kiến đẩy vào con đường bần cùng, bế tắc.
 Chí Phèo và Hộ đều rơi vào bi kịch.
2. Chi tiết nghệ thuật :
- Hình ảnh “bát cháo hành” của Thị Nở trao cho Chí Phèo và “ấm nước đầy và nước hãy còn ấm”của Từ trao cho Hộ đều là biểu tượng thể hiện cho tấm lòng và tình yêu.
- Sau khi nhận được tình cảm ấy cả hai (Chí Phèo, Hộ) đều thay đổi.
- Thể hiện ước mơ và khát vọng hạnh phúc.
- Nó được xem như là một phương tiện cứu rỗi linh hồn, thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của nhà văn Nam Cao qua nét nhìn thấu hiểu tâm tư, trân trọng khát vọng hạnh phúc của những số phận nhiều bi kịch trong xã hội tăm tối trước cách mạng tháng Tám.
3. Đánh giá chung :
- Qua 2 chi tiết nghệ thuật độc đáo cảm nhận được ngòi bút hiện thực và nhân đạo đặt sắc của nhà văn Nam Cao.
- Bộc lộ sự thấu hiểu của hoàn cảnh và số phận con người.
- Góp phần tạo nên vẻ đẹp nhân văn của tác phẩm.
--------------------------------------------------
Nguyễn Đức Hùng
(Trung tâm BDVH và LTĐH Vĩnh Viễn)
Thanhnien.vn

Đề - Đáp án thi thử TN THPT 2010 (Sưu tầm)

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT
MÔN : NGỮ VĂN
Thời gian làm bài : 150 phút, không kể thời gian giao đề

PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5.0 điểm)

Câu 1 (2 điểm) :
Nêu giá trị lịch sử và giá trị nghệ thuật của Tuyên ngôn độc lập ( Hồ Chí Minh).
Câu 2 (3 điểm) :

Anh /Chị hãy viết một văn bản nghị luận ngắn (khoảng 01 trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến sau :
“ Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái”. ( Lê Duẩn)
PHẦN RIÊNG (5.0 điểm):
Thí sinh học chương trình nào thì làm câu dành riêng cho chương trình đó.

Câu 3a: Dành cho thí sinh học chương trình Chuẩn:
Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau trong bài “Tây Tiến ” của Quang Dũng :
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
(Ngữ văn 12, tập một, trang 88, NXB Giáo dục, 2008)

Câu 3b: Dành cho thí sinh học chương trình Nâng cao
Phân tích nhân vật người đàn bà vùng biển trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu
(Ngữ văn 12, tập hai, trang 89, NXB Giáo dục, 2008)

------------



SỞ GD&ĐT THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT
MÔN : NGỮ VĂN

HƯỚNG DẪN CHẤM
( Hướng dẫn chấm gồm 03 trang)
Hướng dẫn chung
Đề bài gồm 3 câu, theo cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT: câu 1 kiểm tra kiến thức văn học; câu 2 là bài nghị luận xã hội; câu 3 là bài nghị luận văn học. Câu 1 chủ yếu yêu cầu tái hiện kiến thức nhưng cũng có yêu cầu về diễn đạt và lập luận. Chỉ những HS diễn đạt trôi chảy, đúng chính tả, ngữ pháp mới được điểm tối đa.
Câu 2 và câu 3 là bài làm văn, tích hợp kiểm tra cả kiến thức xã hội, kiến thức văn học và kĩ năng diễn đạt, kĩ năng lập luận của HS.
Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh đếm ý cho điểm một cách máy móc.
Do sử dụng đồng thời hai bộ sách giáo khoa nên giám khảo cần linh hoạt trong việc vận dụng đáp án. Không buộc học sinh phải trả lời đúng theo cách diễn đạt của bộ sách nào.
Nên sử dụng nhiều mức điểm một cách hợp lí; không yêu cầu quá cao đối với mức điểm 9, 10; khuyến khích những bài làm có ý riêng, sáng tạo, văn viết có cảm xúc…
Chỉ làm tròn điểm toàn bài (lẻ 0,25 làm tròn thành 0,5; lẻ 0,75 làm tròn thành 1,0)

II. Đáp án và thang điểm

PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH

Câu 1: (2 điểm) :
1/ Yêu cầu về kiến thức: học sinh có thể trình bày khác nhau song cần có các ý sau:
- Giá trị lịch sử.
Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn: là lời tuyên bố xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến; là sự khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng của Việt Nam với thế giới; là mốc son lịch sử mở ra kỉ nguyên độc lập tự do trên đất nước ta.
Giá trị nghệ thuật:
Tuyên ngôn độc lập là áng văn chính luận đặc sắc, mẫu mực; lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, giọng văn đầy cảm xúc…
2/ Cho điểm :
Điểm 2,0: Đáp ứng các yêu cầu về nội dung. Diễn đạt tốt. Chấp nhận một vài lỗi nhỏ.
Điểm 1,0: Trình bày được khoảng nửa số ý. Còn mắc một số lỗi chính tả, ngữ pháp.
Điểm 0,0: Chỉ viết vài câu rời rạc, không rõ nội dung, không làm bài.
Giám khảo căn cứ vào bài làm để xác định các mức điểm cụ thể. Không yêu cầu học sinh viết đủ các cụm từ dùng trong đáp án. Sai lỗi