Hiển thị các bài đăng có nhãn Vợ nhặt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vợ nhặt. Hiển thị tất cả bài đăng

Đáp án chính thức thi ĐH Khối D môn Văn


Nếu có hình trong tệp đính kèm này, hình này sẽ không được hiển thị.  Tải xuống tệp đính kèm gốc
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐÁP ÁN - THANG ĐIỂM
ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2012
ĐỀ CHÍNH THỨC
Môn: NGỮ VĂN; Khối: D
(Đáp án - Thang điểm có 04 trang)
Câu Ý
Nội dung
1
Hoàn cảnh diễn ra việc Mị nhìn thấy dòng nước mắt của A Phủ; ý nghĩa của
sự việc ấy đối với tâm lí của nhân vật Mị
2,0
1. Hoàn cảnh diễn ra sự việc Mị nhìn thấy dòng nước mắt của A Phủ (1,0 điểm)
- Do sơ ý để hổ bắt mất bò, A Phủ bị thống lí Pá Tra trói đứng, bỏ mặc cho đói rét
suốt mấy đêm liền giữa kì sương muối khắc nghiệt ở Hồng Ngài; còn Mị sau bao
năm bị đày đọa cùng cực cũng đã trở nên chai lì. Những đêm trước, tuy vẫn trở
dậy thổi lửa, hơ tay, nhìn thấy A Phủ bị trói nhưng Mị chỉ dửng dưng, vô cảm.
0,5
- Đêm ấy, trong nỗi bất lực, bế tắc và hoàn toàn tuyệt vọng, A Phủ đã khóc; đúng
lúc đó, Mị nhìn sang và bắt gặp dòng nước mắt của A Phủ.
0,5
2. Ý nghĩa của sự việc đối với tâm lí của nhân vật Mị (1,0 điểm)
- Việc nhìn thấy dòng nước mắt của A Phủ là khởi đầu cho sự thay đổi lớn trong
tâm lí của Mị; Mị nhớ lại lần cũng bị hành hạ như thế, mà xót xa thương mình; từ
đó đồng cảm với nỗi đơn độc và tuyệt vọng của A Phủ.
0,5
- Từ mối đồng cảm ấy, Mị càng hiểu sâu sắc hơn sự độc ác của cha con thống lí
Pá Tra, thấy rõ sự nguy khốn vô lí đang ập xuống A Phủ; lòng trắc ẩn của người
phụ nữ phút chốc thức dậy đã đem lại sức mạnh cho Mị, khiến Mị dám liều mình
cứu A Phủ.
0,5
2
Trình bày suy nghĩ về ý kiến: Ngưỡng mộ thần tượng là một nét đẹp văn hóa,
nhưng mê muội thần tượng là một thảm họa
3,0
1. Giải thích ý kiến (0,5 điểm)
- Ngưỡng mộ thần tượng là sự tôn kính, mến phục nồng nhiệt dành cho những đối
tượng được xem là hình mẫu lí tưởng hoặc có quyền năng đặc biệt, có sức cuốn
hút mạnh mẽ đối với cá nhân hay cộng đồng; mê muội thần tượng là sự say mê,
tôn sùng một cách mù quáng, thiếu tỉnh táo trước thần tượng.
- Về nội dung, ý kiến này đề cập đến tính hai mặt của việc say mê thần tượng: nếu
ngưỡng mộ đúng mức là tích cực, thì ngưỡng mộ quá mức là tiêu cực và có thể
còn gây ra hậu quả khôn lường.
0,5
2. Bàn luận về ý kiến (2,0 điểm)
- Ngưỡng mộ thần tượng là một nét đẹp văn hóa (1,0 điểm):
+ Ngưỡng mộ thần tượng thể hiện nhu cầu văn hóa cao của con người: nhu cầu
được sống trong những tình cảm cao cả, nồng nhiệt; nhu cầu được hướng tới,
vươn tới những tầm cao, những đỉnh cao sáng giá của đời sống.
0,5

+ Ngưỡng mộ thần tượng là một ứng xử văn hóa, biểu hiện ở các phương diện:
thái độ trân trọng mến phục; hành động tôn vinh cổ vũ; ngôn ngữ ca ngợi tán
dương.
0,5
- Mê muội thần tượng là một thảm họa (1,0 điểm):
+ Mê muội thần tượng là trạng thái mù quáng trong nhận thức, thái quá trong tình
cảm, không còn khả năng suy xét, phân biệt đúng sai, lẫn lộn về giá trị; mê muội
thần tượng còn dẫn đến hành động sai lầm quá khích, gây ra những hậu quả tệ hại
cho bản thân và xã hội.
+ Việc mù quáng chạy theo thần tượng hay khuyếch trương thần tượng quá mức
đều là biểu hiện của sự mê muội thần tượng, đều là những thái độ và ứng xử thiếu
lành mạnh, thậm chí thiếu văn hóa, có thể gây ra những hậu quả khôn lường.
0,5
0,5
3. Bài học nhận thức và hành động (0,5 điểm)
- Cần có nhận thức đúng đắn về việc ngưỡng mộ thần tượng và lường được những
hậu quả của sự mê muội để có thái độ và cách ứng xử phù hợp, làm cho tâm hồn
phong phú hơn, nâng tầm văn hóa cho bản thân, từ đó phấn đấu vươn tới những
tầm cao của đời sống.
- Biết chế ngự những cảm xúc say mê thái quá trước thần tượng, không chạy theo
thần tượng một cách mù quáng; phê phán mọi biểu hiện mê muội thần tượng trong
cuộc sống hàng ngày, trước hết là trong học đường.
0,5
3.a
Cảm nhận về ý nghĩa của kết thúc truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao và
truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
5,0
1. Vài nét về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm)
- Nam Cao là một nhà nhân đạo lớn, một ngòi bút hiện thực xuất sắc, một bậc
thầy về nghệ thuật truyện ngắn; sáng tác mang triết lí nhân sinh sâu sắc. Chí Phèo
là đỉnh cao trong sự nghiệp của Nam Cao; truyện có kết thúc độc đáo, tô đậm
được chủ đề tư tưởng của tác phẩm.
- Kim Lân là nhà văn có sở trường về truyện ngắn; chuyên viết về nông thôn và
đời sống của người dân nghèo với ngòi bút đôn hậu và hóm hỉnh. Vợ nhặt
truyện ngắn tiêu biểu của Kim Lân; kết thúc truyện đặc sắc, khắc sâu được chủ đề
tư tưởng của tác phẩm.
0,5
2. Về ý nghĩa của kết thúc truyện ngắn Chí Phèo (2,0 điểm)
- Ý nghĩa nội dung (1,0 điểm):
+ “Cái lò gạch cũ” vốn là nơi Chí Phèo bị bỏ rơi lúc lọt lòng, giờ đây khi Chí
Phèo vừa chết lại xuất hiện trong ý nghĩ của thị Nở ở kết thúc truyện, đã gợi ra
được sự quẩn quanh, bế tắc trong tấn bi kịch tha hóa và bị cự tuyệt quyền sống
lương thiện của người nông dân.
0,5
+ Kết thúc truyện thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Nam Cao: đồng cảm với
nỗi thống khổ của người nông dân dưới ách thống trị tàn bạo của bọn địa chủ
phong kiến, trân trọng khát vọng được sống lương thiện của họ.
0,5

- Ý nghĩa nghệ thuật (1,0 điểm):
+ Truyện kết thúc bằng cách lặp lại hình ảnh ở phần mở đầu tạo nên kết cấu đầu
cuối tương ứng gợi ra vòng tròn luẩn quẩn của thân phận Chí Phèo, giúp tô đậm
chủ đề tư tưởng: cuộc đời Chí Phèo tuy kết thúc nhưng tấn bi kịch Chí Phèo sẽ
vẫn còn tiếp diễn.
0,5
+ Kết thúc truyện vừa khép vừa mở dành nhiều khoảng trống cho người đọc tưởng
tượng và suy ngẫm, tạo ra được dư âm sâu bền đối với sự tiếp nhận.
0,5
3. Về ý nghĩa của kết thúc truyện ngắn Vợ nhặt (2,0 điểm)
- Ý nghĩa nội dung (1,0 điểm):
+ Hình ảnh “đám người đói và lá cờ đỏ” hiện lên trong tâm trí Tràng vừa gợi ra
cảnh ngộ đói khát thê thảm vừa gợi ra những tín hiệu của cuộc cách mạng, cả hai
đều là những nét chân thực trong bức tranh đời sống lúc bấy giờ.
0,5
+ Kết thúc truyện góp phần thể hiện tư tưởng nhân đạo của Kim Lân: trân trọng
niềm khát vọng sống ngay bên bờ vực cái chết của người lao động nghèo; niềm
tin bất diệt vào tương lai tươi sáng.
0,5
- Ý nghĩa nghệ thuật (1,0 điểm):
+ Hình ảnh dùng để kết thúc truyện là triển vọng sáng sủa của hiện thực tăm tối,
đó là tương lai đang nảy sinh trong hiện tại, vì thế nó quyết định đến âm hưởng
lạc quan chung của câu chuyện.
0,5
+ Đây là kiểu kết thúc mở giúp thể hiện xu hướng vận động tích cực của cuộc
sống được mô tả trong toàn bộ câu chuyện; dành khoảng trống cho người đọc suy
tưởng, phán đoán.
0,5
4. Về sự tương đồng và khác biệt của hai kết thúc truyện (0,5 điểm)
- Tương đồng: Hai kết thúc truyện cùng phản ánh hiện thực tăm tối của con người
trước Cách mạng tháng Tám; cùng góp phần thể hiện tư tưởng nhân đạo của mỗi
nhà văn; cùng là những kết thúc có tính mở, giàu sức gợi.
- Khác biệt: Kết thúc truyện Chí Phèo phản ánh hiện thực luẩn quẩn, bế tắc của
người nông dân lao động, được thể hiện qua kết cấu đầu cuối tương ứng hàm ý
tương lai sẽ chỉ là sự lặp lại của hiện tại; kết thúc truyện Vợ nhặt phản ánh xu
hướng vận động tất yếu của số phận con người, được thể hiện qua kết cấu đối lập
hàm ý tương lai sẽ mở lối cho hiện tại.
0,5
3.b
Cảm nhận về hình ảnh tạo vật thiên nhiên và tâm trạng của nhân vật trữ tình
trong đoạn thơ của bài Tràng giang
5,0
1. Vài nét về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm)
- Huy Cận là nhà thơ lớn của phong trào Thơ mới; hồn thơ luôn khao khát, lắng
nghe sự hòa điệu giữa lòng người với tạo vật; một phong cách thơ hiện đại mà
thấm đượm nhiều yếu tố cổ điển; giàu chất suy tưởng, triết lí.
- Tràng giang là bài thơ xuất sắc, được in trong tập Lửa thiêng, rất tiêu biểu cho
“nỗi buồn sông núi” của Huy Cận; trong đó hình ảnh tạo vật thiên nhiên thấm đẫm
tâm trạng của cái tôi trữ tình, vừa tiêu biểu cho thời đại Thơ mới vừa phảng phất
phong vị cổ điển.
0,5

2. Hình ảnh tạo vật thiên nhiên và tâm trạng của nhân vật trữ tình (4,5 điểm)
- Hình ảnh tạo vật thiên nhiên (1,5 điểm):
+ Hình ảnh trung tâm là dòng tràng giang - một tạo vật thiên nhiên trường cửu, vô
biên, rợn ngợp với nỗi buồn mênh mang, bất tận.
0,5
+ Không gian thơ mở ra với tất cả các chiều hướng bao la, bát ngát của vũ trụ.
+ Thiên nhiên quạnh vắng, vạn vật cách rời, chia lìa: sự vật nhỏ bé thì mong manh
trôi dạt giữa mênh mông sóng nước; tạo vật to lớn thì trơ trọi, lạc lõng; không
gian chiều hôm thiếu vắng mọi âm thanh sự sống.
0,5
0,5
- Tâm trạng của nhân vật trữ tình (1,5 điểm):
+ Cái tôi cô đơn thấu cảm được sự nhỏ bé, bơ vơ trong vũ trụ rộng lớn.
+ Cái tôi lạc lõng cảm thấy mình trôi dạt trong thời gian, lưu lạc trong dòng đời.
+ Tâm trạng ẩn chứa nỗi sầu nhân thế, thời thế, vừa tiêu biểu cho cái tôi thời đại
Thơ mới vừa mang khí vị Đường thi.
0,5
0,5
0,5
- Nghệ thuật (1,5 điểm):
+ Thể thơ thất ngôn trang nghiêm, cổ kính; thi liệu vừa mới mẻ vừa cổ điển.
+ Phép đối ngẫu trong kết cấu, phép tương phản trong mô tả sự vật được sử dụng
nhuần nhuyễn, linh hoạt.
+ Ngôn từ có sự phối thanh nhịp nhàng; hệ thống từ láy hòa hợp với nhịp thơ đăng
đối tạo nên âm điệu trầm buồn, trôi chảy triền miên.
0,5
0,5
0,5
Lưu ý chung: Thí sinh có thể làm bài theo những cách khác nhau, nhưng phải đảm bảo những
yêu cầu về kiến thức. Trên đây chỉ là những ý cơ bản thí sinh cần đáp ứng; việc cho điểm cụ thể
từng câu cần dựa vào bản hướng dẫn chấm kèm theo.
- Hết -

Đề-Gợi ý môn Văn Khối D ( ĐH 2012)



ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2012
Môn: NGỮ VĂN; Khối: D
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề
PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011), việc Mị nhìn thấy “dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ diễn ra trong hoàn cảnh nào? Sự việc ấy có ý nghĩa gì đối với tâm lí của nhân vật Mị?
Câu 2. (3,0 điểm)
Ngưỡng mộ thần tượng là một nét đẹp văn hóa, nhưng mê muội thần tượng là một thảm họa.
Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến trên.
II. PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu của phần riêng  (câu 3.a hoặc 3.b)
Câu 3.a. Theo Chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
            Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao kết thúc bằng hình ảnh:
Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…
(Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.155)
Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân kết thúc bằng hình ảnh:
Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…
(Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.32)
Cảm nhận của anh/ chị về ý nghĩa của những kết thúc trên.
Câu 3.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm) Cảm nhận của anh /chị về hình ảnh tạo vật thiên nhiên và tâm trạng của nhân vật trữ tình trong đoạn thơ sau:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song,
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
(Tràng giang – Huy Cận, Ngữ văn 11 Nâng cao,
Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.49)
BÀI GIẢI GỢI Ý
Câu 1: Thí sinh cần làm rõ hai ý :
            * Hoàn cảnh Mị nhìn thấy :
            - Hằng đêm Mị thức thật khuya và trở dậy thật sớm để hơ lửa, kể cả sau những lần bị A Sử đánh.
            - A Phủ để hổ ăn mất bò nên bị thống lí Pá Tra trói vào cột. Mị nhìn thấy nhưng cô vẫn thản nhiên.
            - Đến đêm thứ ba thì Mị nhìn thấy một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại của A Phủ và Mị đã xúc động.
            * Ý nghĩa của sự việc nói trên đối với tâm trạng của Mị :
            - Hình ảnh một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại của A Phủ là một hình ảnh thương tâm có nhiều ý nghĩa – giọt nước mắt lặng lẽ của một người đàn ông khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cứng cỏi đang trở nên tiều tụy trong một xã hội mà đàn ông là người có vai trò tuyệt đối quan trọng. Chính vì vậy, nó đã làm Mị xúc động.
            - Sự việc nói trên đã khơi mở nguồn mạch nhân ái vốn tiềm ẩn trong tâm hồn Mị. Nó đã làm sống lại trong tâm hồn Mị nhiều cảm xúc và suy nghĩ : nó làm Mị nhớ lại thảm cảnh của bản thân; thương thân nên Mị thương cho hoàn cảnh của A Phủ; căm giận sự độc ác của cha con thống lí Pá Tra; thấy việc A Phủ phải chịu, sẽ phải chết là một điều bất công phi lý.
- Sự việc này đã dẫn Mị đi tới một hành động tự phát nhưng rất táo bạo, hợp lý: cởi trói cho A Phủ và chạy trốn theo A Phủ để giải phóng cuộc đời mình khỏi những bất công đau khổ.
Câu 2: Thí sinh cần đáp ứng các yêu cầu cơ bản của câu hỏi: Viết một bài văn ngắn (khoảng 660 từ) với nội dung trình bày suy nghĩ của bản thân về ý kiến được nêu trong đề bài. Sau đây là một vài ví dụ cụ thể :
·        Mở bài: Đặt vấn đề: Con người sinh ra được giáo dục để sống có ích, làm những điều tốt đẹp và hướng thượng. Thần tượng chính là một nét đẹp đầy hào quang và cao thượng để con người chiêm ngưỡng, tôn thờ và phấn đấu. Tuy nhiên, có nhiều người đã ngưỡng mộ thần tượng một cách mê muội và quên cả những nét đẹp chân chính, thiên liêng khác. Chính vì vậy, có người đã đưa ra ý kiến: “Ngưỡng mộ thần tượng là một nét đẹp văn hóa, nhưng mê muội thần tượng là một thảm họa”
·        Thân bài:
+ Giải thích: Thế nào là thần tượng? Thế nào là văn hóa? Thế nào là ngưỡng mộ thần tượng? Thế nào là nét đẹp văn hóa? Thế nào là mê muội thần tượng. Thế nào là một thảm họa?
+  Lý lẽ:
_ Thần tượng là một hình ảnh đẹp mà con người yêu mến, ngưỡng mộ và tôn thờ. Sự ngưỡng mộ thần tượng đã trở thành thói quen tập quán qua nhiều thế hệ, và hơn nữa, ngưỡng mộ thần tượng chính là một nét đẹp văn hóa của loài người.Có một thần tượng để chúng ta ngưỡng mộ và phấn đấu giúp chúng ta sống tốt hơn, đam mê hơn, yêu đời hơn và nỗ lực hơn. Nhiều người cùng ngưỡng mộ một thần tượng tốt có thể chia sẻ với nhau về sở thích, niềm vui và làm phong phú hơn đời sống tinh thần, làm con người cảm thấy gần gũi nhau hơn và thương yêu nhau hơn.
_ Tuy nhiên, có những hiện tượng tôn thờ thần tượng đến mê muội không phân biệt rõ đúng sai. Ví dụ như, có những người hôn cả đôi giày của thần tượng, và hôn cả chỗ ngồi của thần tượng, cũng như những hành động lố bịch khác xuất phát từ sự mê muội thần tượng. Có người mê muội đến nổi, có những việc làm sai của thần tượng cũng cho  là đúng. Từ đó dẫn đến những hành động sai trái, và hậu quả có thể làm mất nhân cách của chính mình. Và có những hành động gây nguy hiểm cho đồng loại. Có những người mê muội trước những thần tượng xa xôi mà quên đi những tình cảm thân thương, thiêng liêng bên cạnh mình, như cha mẹ, thầy cô, bạn bè. Sự mê muội thần tượng là một thảm họa, là sự xói mòn về đạo đức, là sự chạy theo những nét đẹp phù phiếm và hư ảo, bỏ quên những nét đẹp chân thật và những tình cảm thiêng liêng; quên những nhiệm vụ cụ thể và đơn giản của một con người bình thường.
_ Dẫn chứng.
                  + Mở rộng:
      _ Nếu không khắc phục được những hiện tượng này, xã hội càng ngày càng trở nên băng hoại về đạo đức và sự vô cảm càng ngày càng trở nên phổ biến.
      _ Những hiện tượng trên là nhát dao cứa vào lương tâm của những người Việt Nam có đạo đức, là nỗi đau dai dẳng cho thế hệ cha anh.
                  + Liên hệ thực tế:
_ Chúng ta khuyến khích và thông cảm những người ngưỡng mộ thần tượng một cách chính đáng và chừng mực. Coi việc ngưỡng mộ thần tượng một cách chân chính là một nét đẹp văn hóa cần được tôn trọng và duy trì.
_ Đồng thời, chúng ta phải kiên quyết lên án những kẻ mê muội thần tượng. Tuy nhiên, chúng ta hiểu rằng sự mê muội thần tượng là một hiện tượng tự nhiên không thể tránh khỏi. Do đó, chúng ta phải đủ bản lĩnh và kiên trì đấu tranh với những hiện tượng sai trái này.
·        Kết bài: Khẳng định rằng, ngưỡng mộ thần tượng là một nét đẹp văn hóa cần thiết cho tất cả mọi người và mê muội thần tượng là một thảm họa cần phải đấu tranh để hạn chế. Ý kiến trên là một lời nhắc nhở đối với tất cả chúng ta hãy tự nhìn lại mình, hiểu hơn chính mình và những thần tượng của mình; từ đó, có những suy nghĩ và hành động đúng đắn hơn
II. PHẦN RIÊNG
Câu 3a.
I. GIỚI THIỆU: tác giả, tác phẩm
- Nam Cao và Kim Lân là hai  trong những cây bút hiện thực xuất sắc trong đời sống văn học hiện đại Việt Nam, đều viết thành công về đề tài người nông dân.
- Chí Phèo và Vợ nhặt là hai thiên truyện khắc họa tình trạng thê thảm của người nông dân trước cách mạng tháng Tám. Tuy nhiên kết quả cuối cùng có những bước ngoặc khác nhau: Một bên là những ám ảnh đen tối; một bên là hình ảnh gợi nhiều hy vọng.
II. NỘI DUNG (Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải đảm bảo các ý sau đây).
1.      Nêu khái niệm nhân đạo trong văn học.
2.      Cảm nhận hình ảnh “cái lò gạch bỏ không” qua sự ám ảnh của thị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo.
a.       Khái quát nội dung tác phẩm Chí Phèo.
b.      Tóm tắt cuộc đời đầy bi kịch của người nông dân Chí Phèo
c.       Ý  nghĩa hình ảnh “cái lò gạch cũ” không người qua lại.
-         Nỗi ám ảnh về sự đen tối và bế tắc của người nông dân trong xã hội bất công khi chưa có ánh sáng cách mạng. Ở đó tình trạng người nông dân bị bọn cường hào ác bá đẩy vào “bước đường cùng”. Người nông dân lương thiện bị bỏ rơi như đứa bé từng bị bỏ rơi trong cái lò gạch cũ.
-         Nông thôn Việt Nam ngày ấy tan hoang chẳng khác gì cái lò gạch bị bỏ hoang.
-         Hiện thực đó có ý nghĩa tố cáo sâu sắc xã hội thực dân nửa phong kiến trước đã tiếp tay cho bọn ác bá giày xéo nông dân.
-         Thể hiện cái nhìn xót xa của nhà văn đối với tương lai đen tối của người nông dân.
3.      Cảm nhận hình ảnh  “đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới” thoáng hiện qua tâm trí nhân vật Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt”
a.       Khái quát nội dung tác phẩm “Vợ nhặt”
b.      Tóm tắt về cuộc đời nhân vật Tràng.
c.       Ý nghĩa “đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”
+ “đám người đói” vẫn đang là hiện thực.
+ “lá cờ đỏ bay phấp phới” gợi ra một thứ ánh sáng cao đẹp là cách mạng sẽ xua tan bóng tối của hiện thực đói khát ấy.
+ Vượt qua hiện thực đen tối của nạn đói, nhân vật có cái nhìn tin tưởng về phía tương lai.
+ Thông điệp ngợi ca cách mạng, bởi chỉ có cách mạng mới có thể mang đưa nhân dân đến bến bờ tươi sáng.
4.      Nhận định chung
a.       Điểm tương đồng
- Truyện ngắn “Chí phèo” của Nam Cao và “Vợ nhặt” của Kim Lân đều thể hiện ánh nhìn nhân đạo của hai nhà văn đối với đời sống, những mảnh đời bất hạnh trong xã hội cũ.
- Cả hai thiên truyện đều mang ý nghĩa tố cáo sâu sắc xã hội thực dân, phong kiến, phát xít.
- Cả hai nhà văn đều thể hiện tài năng trong sáng tạo nghệ thuật.
b.      Điểm khác biệt:
Hai chi tiết, hai tác phẩm đã ra đời trong hai giai đoạn khác nhau của văn học: trước và sau Cách mạng tháng Tám. Hai hình ảnh mang hai ý nghĩa khác nhau:
+ Người nông dân trong truyện ngắn Chí Phèo hoàn toàn bế tắc vì không được cách mạng soi sáng.
+ Người nông dân trong truyện ngắn “Vợ nhặt” dạt dào niềm tin vào tương lai vì có hình ảnh cách mạng xuất hiện.
+ Bút pháp: Nam Cao viết theo khuynh hướng hiện thực phê phán; Kim Lân viết theo khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa.
III. Kết luận
+ Khắc họa chân thực, sinh động đời sống đáng thương của nhân dân ta.
+ Tố cáo xã hội sâu sắc
+ Tấm lòng của nhà văn
+ Tài năng trong sáng tạo qua những hình ảnh giàu ý nghĩa góp phần nổi bật tư tưởng chủ đề nhân đạo của tác phẩm.
Câu 3b.
I.                         GIỚI THIỆU
-         Huy Cận  là nhà thơ xuất sắc trong phong trào “Thơ mới” 1932 – 1941.
-         Tràng Giang sáng tác năm 1939 – tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận trước cách mạng tháng Tám
-         Hai khổ thơ đầu: thiên nhiên cảnh vật và  tâm trạng nhân vật trữ tình đều nhuốm buồn.
II.                NỘI DUNG
(Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng đảm bảo các ý sau nay).
  1. Nêu khái quát về trào lưu “Thơ mới”, để thấy:
+ Thiên nhiên là nơi ấp ủ những cảm xúc trữ tình.
+ Nỗi buồn thế hệ.
  1. Nội dung bài thơ “Tràng giang”
  1. Hình ảnh tạo vật, thiên nhiên ở 2 khổ thơ đầu
-         Bài thơ mở đầu với hình ảnh dòng sông buồn - “tràng giang buồn” và ngoại  cảnh nhuốm nỗi chia li cả thuyền và nước đều “sầu trăm ngả”.
-         Hình ảnh “củi một cành khô” bé nhỏ, gầy guộc trôi dạt “lạc mấy dòng”.
-         Sang khổ hai cảnh vật như được nới rộng đến không gian của “làng xa”; “ chợ chiều” nhưng tất cả đều vắng lặng, quạnh quẽ, bởi làng thì xa vắng; chợ thì đã vãn, chẳng còn đâu tiếng người.
-         Không gian được nới rộng thêm từ chiều dài, rộng lại đến cao thành 3 chiều (nắng xuống, trời lên sâu chót vót) tạo cái ấn tượng thăm thẳm của vũ trụ.
b. Tâm trạng nhân vật trữ tình
-         Hình ảnh “tràng giang buồn” ẩn dụ cho dòng đời buồn.
-         Hình ảnh con người trở nên bé nhỏ, bơ vơ trước không gian bát ngát.
-         Tâm trạng nhân vật trữ tình như trải ra và cùng buồn như từng lớp sóng “điệp điệp” miên man không dứt.
-         Hình ảnh “củi một cành khô: là hình  ảnh đời thực, gửi gắm nỗi ưu tư của tác giả  giả về thân phận con người giữa tràng giang bát ngát của cuộc đời trong xã hội cũ.
-         Hình ảnh “con thuyền” và “mái nước” song song nghĩa là cứ đi bên nhau và không gặp nhau gợi nỗi niềm chia ly. Đó cũng chính là tâm trạng nhân vật trữ tình mang nỗi niềm ưu tư ngay trên quê hương, đất nước mình mà chẳng tìm thấy đâu bóng dáng quê hương. Bởi vì thi nhân đang sống trong cảnh đất nước nằm trong tay thực dân.
3. Nhận định chung
- Đề tài, cảm hứng mang nỗi sầu vạn cổ của con người bé nhỏ, hữu hạn trước không gian bát ngát của tạo vật.
- Chất liệu thi ca với nhiều hình ảnh quen thuộc được gợi từ thơ cổ (tràng giang, bờ bãi đìu hiu) ; cũng có những hình ảnh, âm thanh được gợi ra từ đời thường, không ước lệ (cành củi khô, tiếng vản chợ chiều,…)
- Từ hình ảnh thơ ấy đã bộc lộ cái tôi trữ tình nay ưu tư và lạc loài.
III. KẾT LUẬN
-         Tràng giang không chỉ là bức tranh phong cảnh mà còn là bức tranh tâm trạng của thi nhân.
-         Hai khổ thơ đậm phong vị thi ca cổ điển và hiện đại giàu sự sáng tạo mang dấu ấn xúc  cảm của tác giả trước thời đại.

                                                                                       Lý Tú Anh, Phan Thị Thanh
                                                                                       THPT Vĩnh Viễn – TPHCM 

Thi TN THPT 2012 Hệ Giáo dục TX Môn Ngữ Văn: Đề đáp án chính thức của BGD


Đề thi - Đáp án đề thi tốt nghiệp môn Ngữ Văn năm 2012 Hệ GDTX
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
----------------------------------
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2012
Môn thi: Ngữ Văn – Giáo dục thường xuyên
Thời gian làm bài: 150 phút, không kể thời gian giao đề

Câu 1. (2,0 điểm)
Tóm tắt truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân (phần trích trong sách Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục – từ năm 2008 đến năm 2011).
Câu 2. (3,0 điểm)
Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về lòng tự trọng của con người trong cuộc sống.
Câu 3. (5,0 điểm)
Phân tích đoạn thơ sau trong bài Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh:
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức

Dẫu xuôi về phương bắc
Dẫu ngược về phương nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh – một phương

Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở
(Ngữ văn 12, Tập một, tr. 155 – 156, NXB Giáo dục – 2009)
----------Hết----------
Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Giám thị không giải thích gì thêm
image pending Đáp án đề thi tốt nghiệp môn Ngữ Văn năm 2012   Hệ GDTX


----------------------
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2012
Môn thi: NGỮ VĂN - Giáo dục thường xuyên
HƯỚNG DẪN CHẤM THI
(Bản Hướng dẫn chấm thi gồm 02 trang)
I. Hướng dẫn chung
– Giám khảo cần nắm vững các yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát
bài làm của thí sinh, tránh cách chấm đếm ý cho điểm.
– Do đặc trưng của bộ môn Ngữ văn nên giám khảo cần chủ động, linh hoạt trong
việc vận dụng đáp án và thang điểm; khuyến khích những bài viết có cảm xúc và sáng tạo.
– Việc chi tiết hóa điểm số các ý (nếu có), phải đảm bảo không sai lệch với tổng
điểm của mỗi ý và được thống nhất trong Hội đồng chấm thi.
– Sau khi cộng điểm toàn bài, làm tròn đến 0,50 (lẻ 0,25 làm tròn đến 0,50; 0,75 làm
tròn thành 1,00).
II. Đáp án và thang điểm
Đáp án
Điểm
Tóm tắt truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân
- Giữa lúc nạn đói đang hoành hành, Tràng dẫn một người đàn bà lạ về
xóm ngụ cư khiến mọi người đều ngạc nhiên.
0,50
- Trước đó, chỉ hai lần gặp, với mấy câu đùa vu vơ, vài bát bánh đúc, thị
theo Tràng về làm vợ.
0,50
- Về đến nhà, Tràng vẫn còn ngỡ ngàng; mẹ Tràng từ ngạc nhiên đến lo
lắng, xót thương, rồi cũng mừng lòng đón nhận người con dâu.
0,50
- Sáng hôm sau, vợ và mẹ Tràng thu dọn nhà cửa; Tràng thấy thương yêu,
gắn bó với gia đình của mình; trong bữa cơm ngày đói, nghe tiếng trống
thúc thuế, hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc và lá cờ đỏ hiện lên trong
óc Tràng.
0,50
Câu 1
(2,0 đ)
Lưu ý: Thí sinh có thể tóm tắt, trình bày theo nhiều cách; diễn đạt rõ ràng,
hợp lí thì vẫn đạt điểm tối đa.
Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ về lòng tự trọng
a. Yêu cầu về kĩ năng
Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát;
không mắc lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp.
Câu 2
(3,0 đ)
b. Yêu cầu về kiến thức
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng lí lẽ và dẫn chứng phải

2
hợp lí; cần làm rõ được các ý chính sau:
- Nêu được vấn đề cần nghị luận: bàn về lòng tự trọng.
0,50
- Giải thích: tự trọng là biết coi trọng và giữ gìn phẩm cách của chính mình. 0,50
- Bàn luận:
+ Biểu hiện của lòng tự trọng: ứng xử có văn hoá, biết xấu hổ, coi trọng
danh dự; có tinh thần trách nhiệm trong công việc.
+ Tự trọng là phẩm chất cần có để người khác tôn trọng mình, nâng cao uy
tín cá nhân; là động lực giúp con người hoàn thành nhiệm vụ; người có
lòng tự trọng được mọi người quý mến; tạo được mối quan hệ tốt đẹp trong
xã hội.
+ Phê phán những người không có lòng tự trọng; người không có lòng tự
trọng sẽ không thấy được giá trị của bản thân, dễ làm tổn thương người khác.
0,50
0,50
0,50
- Bài học nhận thức, hành động: thấy được sự cần thiết của lòng tự trọng;
có ý thức giữ gìn, bảo vệ danh dự bản thân.
0,50
Lưu ý: Nếu thí sinh có kĩ năng làm bài tốt nhưng chỉ đi sâu bàn luận vào một
vài khía cạnh và có những suy nghĩ riêng, hợp lí thì vẫn đạt điểm tối đa.
Phân tích đoạn thơ trong bài Sóng của Xuân Quỳnh
a. Yêu cầu về kĩ năng
Biết cách làm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ. Kết cấu chặt chẽ, diễn
đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
b. Yêu cầu về kiến thức
Trên cơ sở những hiểu biết về Xuân Quỳnh và bài thơ Sóng, thí sinh có thể
phân tích đoạn thơ theo nhiều cách, nhưng cần làm rõ được các ý cơ bản sau:
- Nêu được vấn đề cần nghị luận
0,50
- Qua hình tượng sóng, nhân vật trữ tình bộc lộ nỗi nhớ: da diết, khắc khoải;
bao trùm lên không gian, thời gian; hiện hữu trong ý thức lẫn tiềm thức.
1,50
- Nhân vật trữ tình khẳng định lòng thuỷ chung son sắt và niềm tin mãnh
liệt vào tình yêu, hạnh phúc.
1,50
- Nghệ thuật: thể thơ năm chữ với âm điệu nhịp nhàng; hình tượng ẩn dụ
độc đáo; giọng thơ tha thiết, sâu lắng.
1,00
- Đánh giá chung về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ.
0,50
Câu 3
(5,0 đ)
Lưu ý: Bài làm của thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau; cơ
bản đạt được các yêu cầu về kĩ năng và kiến thức thì vẫn cho điểm tối đa.
--------- Hết ---------

Đề-Gợi ý Môn Văn TN THPT 2011

KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2011


Môn thi : NGỮ VĂN – Giáo dục trung học phổ thông

I. Phần chung cho tất cả thí sinh (5,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Trong đoạn cuối truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, nhân vật nghệ sĩ Phùng mỗi khi ngắm kĩ và nhìn lâu hơn tấm ảnh do mình chụp thường thấy hiện lên những hình ảnh nào? Những hình ảnh đó nói lên điều gì?

Câu 2 (3,0 điểm)

Trước nhiều ngả đường đi đến tương lai, chỉ có chính bạn mới lựa chọn được con đường đúng cho mình.

Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.

II. Phần riêng - Phần tự chọn (5,0 điểm)

Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu 3.a hoặc câu 3.b)

Câu 3.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)

Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

` (Ngữ văn 12, Tập một, tr.88, NXB Giáo dục - 2009)

Câu 3.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)

Phân tích nhân vật Tràng trong truyện Vợ Nhặt của Kim Lân ( phần trích trong Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập hai, NXB Giáo dục - 2008)

BÀI GIẢI GỢI Ý

I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)

Câu 1:

Nguyễn Minh Châu (1930-1989) là nhà văn Quân đội khẳng định tài năng trong kháng chiến chống Mỹ với những tác phẩm có khuynh hướng sử thi, và cũng là cây bút tiên phong của Văn học Việt Nam trong thời kỳ đổi mới với tác phẩm theo cảm hướng thế sự mang dư vị triết lí nhân sinh. Trong đoạn cuối truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của ông viết trong thời kỳ đổi mới, nhân vật nghệ sĩ Phùng mỗi khi ngắm kĩ và nhìn lâu hơn tấm ảnh do mình chụp, thấy hiện lên :

- Hình ảnh “người đàn bà ấy bước ra khỏi bức ảnh”. Đó là hình ảnh người đàn bà hàng chài vùng biển, dáng người cao lớn, thô kệch, áo rách tả tơi, khuôn mặt rỗ nhợt nhạt với những bước đi chậm rãi, chắc chắn rồi lẫn vào đám đông.

- Hình ảnh đó nói lên: đằng sau cái đẹp toàn bích của “chiếc thuyền ngoài xa” là cuộc sống thực của con người nghèo khổ, lam lũ, chịu đựng. Qua cách nhìn sâu sắc về cuộc sống, tác giả muốn đề xuất với những nhà quản lý xã hội: bên niềm vui vỡ òa của đại thắng mùa Xuân năm 1975, thì vẫn còn đâu đó những ngổn ngang từ chiến tranh xâm lược của Mỹ, đã khiến đời sống nhân dân còn bao nỗi gian lao vất vả; với người nghệ sĩ: cần phải có thái độ đúng đắn về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời.

Câu 2:

Câu hỏi thuộc dạng bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lý. Học sinh cần đáp ứng đúng, đủ các yêu cầu về dạng bài, độ dài (khoảng 400 từ) và nội dung.

Sau đây là một số gợi ý:

- Giới thiệu vấn đề: trước nhiều ngã đường đi đến tương lai chỉ có chính bạn mới lựa chọn con đường đúng cho mình.

- Giải thích vấn đề:

+ Bản thân cần phải có thái độ tự chủ đối với tương lai của chính mình.

+ Thực trạng : ông bà, cha mẹ,… thường buộc con cái phải lựa chọn con đường tương lai theo ý của mình. Điều đó có thể dẫn tới những hậu quả đối với con cháu.

+ Bản thân mỗi người thường hiểu rõ chính mình hơn ai hết. Do đó, dễ lựa chọn được con đường đúng cho bản thân.

- Lựa chọn con đường đúng cho bản thân thường dễ mang lại cho con người thành công, hạnh phúc… trong cuộc sống.

- Trái lại, nó sẽ dẫn con người đến thất bại, u uất, đau khổ.

- Bình luận và rút ra bài học :

+ Cần thấy được ý nghĩa quan trọng của việc bản thân cần có thái độ tự chủ đối với con đường tương lai của chính mình.

+ Cần thấy được những khó khăn khi có thái độ nói trên để từ đó có thái độ cần thiết đúng mức.

+ Để có thể lựa chọn được con đường đúng cho mình, bản thân mỗi người cần phải có hiểu biết đầy đủ về bản thân (sở trường, sở đoãn, nguyện vọng…), về những “ngã đường đi đến tương lai”.

+ Tuy nhiên, bản thân mỗi người cũng không nên ngoan cố, kiêu ngạo, tự tin quá đáng. Cần phải biết tham khảo, lắng nghe ý kiến của bố mẹ, ông bà, của các chuyên gia để có hiểu biết đầy đủ và lựa chọn được con đường đúng đắn nhất cho mình.

- Kết luận : Mỗi người cần nhận thức được chính bản thân mình mới là người có vai trò quan trọng trong việc lựa chọn con đường đúng cho mình, nhưng cũng cần thiết phải biết trân trọng, lắng nghe ý kiến của tất cả mọi người khi lựa chọn.

Câu 3a:

I. Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, nội dung đoạn thơ.

II. NỘI DUNG CHÍNH (thí sinh có thể trình bày nhiều cách khác nhau nhưng phải đảm bảo những ý sau đây) :

1. Khái quát tác phẩm

- Bài thơ “Tây Tiến” là sự hòa quyện giữa ba cuộc đời: cuộc đời của một vùng đất xa xăm của Tổ quốc nhưng rất đỗi thân thương với chúng ta; cuộc đời của những người lính trẻ hào hoa , hào hùng, giàu lí tưởng , sống xả thân vì nước; cuộc đời của Quang Dũng – nhà thơ áo lính, gắn bó máu thịt với chiến trường miền Tây và binh đoàn Tây Tiến.

2. Cảm xúc xuyên suốt bài thơ: những hoài niệm nhớ thương về một thời “chinh chiến cũ” với chiến trường miền Tây dữ dội và đồng đội thân yêu. Sau những bước chân trường chinh, Tây Tiến, đoàn binh đã được biên chế thành những đơn vị khác. Vì thế bài thơ lúc đầu có tựa đề "Nhớ Tây Tiến", về sau Quang Dũng mới đổi thành "Tây Tiến".

3. Nội dung 14 dòng thơ

- Hình tượng người lính với sự hoà trộn các sắc màu vừa hiện thực vừa lãng mạn đã được hiện ra ngay từ phần thứ nhất của bài thơ:

+ Mô tả vẻ đẹp của người lính gắn liền với những chặng đường hành quân của họ. Thiên nhiên và con người đan xen hoà quyện lẫn nhau để tạo nên bức tranh kì vĩ dữ dội và thơ mộng trữ tình của thiên nhiên cùng với tầm vóc lịch sử lớn lao của con người.

+ Tây Tiến lại được bắt đầu bằng nỗi nhớ về một dòng sông với âm hưởng vô cùng tha thiết với nhớ thương qua dòng thơ: "Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!"

- Trước hết phải thấy Quang Dũng đã tạo nên trong Tây Tiến một thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa bí hiểm, vừa thơ mộng vừa khắc nghiệt như một cái nền làm nổi bật hình tượng người lính.

+ Bức tranh thiên nhiên vô cùng đặc sắc bởi nó được tạo nên từ một thứ ngôn ngữ rất giàu tính tạo hình. Mô tả thiên nhiên mà ta như thấy những bước chân quả cảm của đoàn binh Tây Tiến đang đạp bằng mọi gian khổ mà thiên nhiên thử thách, mọi hiểm trở mà thiên nhiên đe doạ. Ta không chỉ thấy một Sài Khao sương lấp, một Mường Lát hoa về trong đêm hơi mà còn thấy cả những chặng đường khúc khuỷu, cheo leo.

+ Đó là hình ảnh người lính hiện ra như một đoàn quân mỏi nhưng cũng lại là người lính tâm hồn tràn đầy chất thơ nên giữa bao nhiêu mỏi mệt vẫn cảm nhận được vẻ đẹp của núi rừng, vẻ đẹp của một "Mường Lát hoa về trong đêm hơi". Người lính như thả hồn vào cõi mộng của đêm hơi giữa núi rừng, tận hưởng hương thơm của hoa rừng.

+ Đó còn là hình ảnh những người lính vượt muôn trùng dốc với bao nhiêu vất vả bởi những "khúc khuỷu", "thăm thẳm", "heo hút" nhưng đột nhiên lại xuất hiện ở tầm cao đỉnh trời trong tiếng cười lạc quan với chi tiết "súng ngửi trời".

+ Đó còn là hình ảnh về sự “dãi dầu” vất vả cùng với sự hy sinh lặng lẽ mà rất anh hùng của những người lính Tây Tiến dọc theo chặng đường hành quân. Thương nhớ vô cùng trong 2 chữ "anh bạn" mà nhà thơ đã nói về đồng đội của mình , bởi đó là những người bạn đã nằm lại dọc đường hành quân. Quang Dũng không biến nỗi đau ấy thành sự bi luỵ khi nhà thơ viết về sự hy sinh của những người bạn như viết về giấc ngủ của họ.

"Anh bạn dãi dầu không bước nữa - Gục lên súng mũ bỏ quên đời". Tinh thần của họ lại vút lên cùng sông núi. (mở rộng)Họ coi cái chết nhẹ nhàng như đi vào giấc ngủ nhưng sông núi lại để niềm nhớ thương và kiêu hãnh, hoá thân thành những ngọn thác để “Chiều chiều oai linh gầm thét” vừa thể hiện nỗi đau xé lòng lại vừa thể hiện khúc tráng ca muôn đời của sông núi hát về sự hy sinh của họ.

- Bao nhiêu lãng mạn gửi vào những chữ "nhớ ôi Tây Tiến...", "Mai Châu mùa em ...". Đó là những chữ đã để lại trong tâm hồn người lính những vẻ đẹp của miền núi hoang sơ kia, vẻ đẹp mang đậm tình người với "cơm lên khói" và "mùa em thơm nếp xôi". Lòng người Tây Tiến nhớ mãi "mùa em", mùa những người lính Tây Tiến gặp em giữa khung cảnh hạnh phúc của xóm làng. Hương nếp xôi cũng từ mùa em mà thơm mãi trong tâm hồn người lính.

III. KẾT LUẬN

- Tình thơ là những hoài niệm bâng khuâng da diết của tiếng thơ lãng mạn tài hoa của Quang Dũng đã làm sống lại hình ảnh con đường hành quân gian khổ khốc liệt và tinh thần xả thân vì Tổ quốc của người lính Tây Tiến năm xưa.

- Hình tượng nghệ thuật vừa bám sát hiện thực lại có sự bay bổng trong sức tưởng tượng của người đọc bởi chất lãng mạn ấy của hồn thơ Quang Dũng.

Câu 3b

Đây là một số gợi ý :

- Giới thiệu Kim Lân : nhà văn sở trường về đề tài nông thôn và nông dân với những hiểu biết sâu sắc và tình cảm thiết tha; nhân vật của ông thường là những người nông dân lam lũ, nghèo khổ, chất phác, có tâm hồn cao đẹp. Ông viết không nhiều, nhưng ở giai đoạn cũng đều có những tác phẩm xuất sắc.

- Giới thiệu tác phẩm Vợ nhặt : có tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư, được sáng tác ngay sau CMT8 thành công. Tác phẩm còn dang dở và bị mất bản thảo. Sau ngày hòa bình lập lại 1954, Kim Lân đã dựa một phần vào cốt truyện cũ viết nên truyện Vợ nhặt.

- Nhân vật Tràng :

+ Anh là người lao động nghèo, thô kệch, làm nghề kéo xe thóc cho Liên Đoàn. Anh hiện ra với đầy đủ những gì chân thật nhất của người thanh niên nông dân nghèo, thô kệch đang bị những lo toan về chuyện đói khát dày vò. Chiều về , ” chiếc áo nâu tàng vắt sang một bên cánh tay, cái đầu trọc nhẵn chúi về đằng trước. Hình như những lo lắng chật vật trong một ngày đè xuống cái lưng to rộng như lưng gấu của anh “ .

+ Anh là người luôn khao khát hạnh phúc . Cũng như mọi người thanh niên khác, Tràng cũng mong có một mái ấm gia đình, có một người vợ để yêu thương . Trong lần gặp cô vợ nhặt lần thứ nhất, anh đã hết sức thích thú khi chị cười đùa vui vẻ với anh vì từ trước tới giờ chưa có ai cười với anh tình tứ như thế. Mong muốn là vậy . Nhưng anh có đạt được mơ ước đó đâu. Cho nên, câu anh trả lời cô vợ nhặt trong lần gặp thứ hai ( “ Làm đếch gì có vợ “ ) tuy suồng sả, thô lỗ nhưng đã nói lên niềm ước mơ thầm kín sâu xa trong lòng Tràng. Bởi vậy, khi cô vợ nhặt đồng ý theo anh về, chúng ta hiểu được lòng Tràng sung sướng đến thế nào. Anh đi bên cạnh chị với một cảm giác mới mẻ, lạ lùng trước giờ chưa từng có. Nó hiện ra cụ thể như có bàn tay ai mơn man khắp da thịt. Thậm chí đến sáng hôm sau, khi anh đã thực sự có vợ rồi mà anh vẫn cứ ngỡ như trong một giấc mơ.

+ Với Tràng, chuyện anh có vợ còn là một biểu hiện của niềm tin vào sự sống và tương lai . Vì vậy, khi anh có vợ, anh thấy anh đã trưởng thành, đã nên người. Anh thấy anh có trách nhiệm đối với gia đình. Anh thấy yêu thương cái gia đình của anh hơn. Anh thấy anh có bổn phận cùng vợ sinh con đẻ cái xây dựng gia đình. Anh cũng muốn cùng với mẹ và vợ tham gia vào công việc dọn dẹp nhà cửa cho quang quẻ như để mong cho cuộc sống được tốt đẹp hơn. Với Tràng, chuyện có vợ là một việc nghiêm túc. Sau khi cô vợ nhặt đồng ý theo anh về, anh còn đưa chị vào chợ mua một cái rỗ con cùng vài món lặt vặt. Anh lại còn đãi chị một bữa no nê. Món đồ, bữa ăn như là quà cưới, tiệc cưới của anh với chị. Quà cưới, tiệc cưới của một người thanh niên nghèo với người vợ nhặt trong hoàn cảnh cái đói, cái chết phủ trùm cả xóm, cả làng. Anh lại còn hào phóng mua chai dầu hai hào để thắp lên cho nhà cửa sáng sủa trong ngày đầu tiên có vợ.

+ Tin tưởng vào sự sống và tương lai nên tuy bị gánh áo cơm đè nặng, tuy cũng lo lắng vì không biết thóc gạo nầy có lo nỗi cho bản thân hay không nhưng Tràng vẫn liều nhận cô vợ nhặt về. Ngoài khao khát có gia đình, hành động của Tràng còn xuất phát từ lòng yêu thương, cảm thông hoàn cảnh khốn khó của người khác nên sẵn sàng cưu mang, đùm bọc . Vì vậy, khi đưa người vợ nhặt về, bên cạnh niềm vui vì có vợ, Tràng còn thấy lòng tràn đầy tình nghĩa với “ người đàn bà đi bên “. Chẳng phải đó là sự cưu mang của một người khó khăn với một người còn thê thảm hơn mình rất nhiều lần đó sao ? Như vậy, quả thật với Tràng, hoàn cảnh khó khăn, đói kém, chết chóc không thể nào làm mất đi niềm tin vào sự sống và tương lai.

- Nhân vật được xây dựng qua các chi tiết ngoại hình, lời nói, hành động. Nhà văn đặc biệt khai thác các chi tiết về nội tâm để khắc họa sâu đậm tính cách của nhân vật.

- Tràng tiêu biểu cho người lao động có cuộc sống nghèo khổ nhưng bản chất, tâm hồn tốt đẹp: luôn yêu thương, tương trợ, đùm bọc, nhân hậu và trong hoàn cảnh đói khổ vẫn luôn tin tưởng vào tương lai. Nhân vật đã góp một phần rất quan trọng vào việc biểu hiện tư tưởng chủ đề, giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.
--------------------
Nguồn TTO
Trần Hồng Đương

(TT Luyện thi Đại học Vĩnh Viễn)