Hiển thị các bài đăng có nhãn Câu hỏi GK. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Câu hỏi GK. Hiển thị tất cả bài đăng

TS10 2014: Vĩnh Phúc

SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC
———————
ĐỀ CHÍNH THỨC
KỲ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2013 – 2014
ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian giao đề.
————————————


Câu 1 (2,0 điểm).
Cho đoạn văn:
Mẹ tôi lấy vạt áo nâu thấm nước mắt cho tôi rồi xốc nách tôi lên xe. Đến bấy giờ tôi mới kịp nhận ra mẹ tôi không còm cõi xơ xác quá như cô tôi nhắc lại lời người họ nội của tôi. Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má. Hay tại sự sung sướng bỗng được trông nhìn và ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình mà mẹ tôi lại tươi đẹp như thuở còn sung túc?
(Ngữ văn 8, tập 1, NXBGDVN-2010)
a) Đoạn văn trên được trích từ văn bản nào? Ai là tác giả?
b) Các từ được in đậm thuộc trường từ vựng gì?
c) Từ sung túc có nghĩa là gì?
d) Câu văn Mẹ tôi lấy vạt áo nâu thấm nước mắt cho tôi rồi xốc nách tôi lên xe là câu đơn hay câu ghép?

Câu 2 (3,0 điểm).
          a) Chép chính xác bốn câu cuối bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận.
          b) Viết một đoạn văn ngắn (5 đến 8 câu) nêu cảm nhận về khổ thơ.

Câu 3 (5,0 điểm).
Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc.
———— HẾT————
Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm!

Họ và tên thí sinh…………………………………… Số báo danh……………







 SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC
———————
(Hướng dẫn chấm có 03 trang)

KỲ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2013 - 2014                      
HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN: NGỮ VĂN
——————

Câu 1 (2,0 điểm).
a.
 Đoạn văn được trích từ văn bản Trong lòng mẹ (Trích Những ngày thơ ấu) của tác giả Nguyên Hồng.
Lưu ý: Học sinh có thể trả lời: đoạn văn trích từ văn bản Trong lòng mẹ của tác giả Nguyên Hồng hoặc Những ngày thơ ấu của tác giả Nguyên Hồng vẫn được điểm tối đa.
0,5đ
b.
Các từ in đậm thuộc trường từ vựng: các bộ phận của con người.
0,5đ
c.
Từ sung túc có nghĩa là đầy đủ (về đời sống vật chất).
0,5đ
d.
Câu đơn.
0,5đ

Câu 2 (3,0 điểm).

a.Chép khổ thơ
                       Câu hát căng buồm với gió khơi,
                       Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
                       Mặt trời đội biển nhô màu mới,
                       Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
Lưu ý
 - Chép đúng mỗi câu: 0,25 điểm.
- Sai lỗi chính tả, dấu câu : 1 – 3 lỗi trừ 0,25 điểm; 4 – 6 lỗi trừ 0,5 điểm.
1,0đ
b. Viết đoạn văn
- Về nội dung: đây là đoạn kết bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận, miêu tả cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về trong buổi sớm mai hồng.
0,25đ
+ Sức người (câu hát, đoàn thuyền) căng, đua cùng với sức thiên nhiên (gió khơi, mặt trời) khỏe khoắn, hùng tráng, phơi phới niềm vui, sự sống.
0,5đ
+ Thiên nhiên tươi mới, kì vĩ, tráng lệ (Mặt trời đội biển nhô màu mới) càng làm ngời sáng thành quả của con người lao động mới (Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi).
0,5đ
=> Con người, thành quả lao động cùng thiên nhiên biển khơi tôn vinh nhau, cùng dệt nên bức tranh cuộc sống mới tươi đẹp.
0,25đ
- Về nghệ thuật: ngòi bút khoáng đạt, phóng đại đã vẽ nên bức tranh thơ hoành tráng, tươi sáng, lấp lánh màu sắc lãng mạn, bay bổng. Âm hưởng lời thơ sôi nổi, hào hùng, khơi dậy khí thế lao động mới.
 Lưu ý:
 -  Thí sinh có thể diễn đạt theo cách khác nhưng đúng tinh thần thì vẫn cho điểm tối đa.
 - Viết không đúng hình thức đoạn văn thì cho tối đa là 0,5 điểm.

0,5đ
Câu 3 (5,0 điểm).
* Yêu cầu về kỹ năng
Thí sinh hiểu đúng yêu cầu của đề bài; biết cách làm bài văn nghị luận văn học; bố cục ba phần rõ ràng; lập luận chặt chẽ, mạch lạc; dẫn chứng chính xác, tiêu biểu; không mắc các lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp; khuyến khích những bài viết sáng tạo, có chất văn.
* Yêu cầu về kiến thức
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở nắm chắc tác phẩm, không suy diễn tuỳ tiện. Bài viết phải làm nổi bật được diễn biến tâm trạng của nhân vật ông Hai khi nghe tin làng Chợ Dầu của mình theo giặc. Cụ thể cần đảm bảo các ý cơ bản sau:

Mở bài
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận.
0,5đ



Thân bài
  - Hoàn cảnh của ông Hai: rất yêu làng, tự hào, hay khoe về làng nhưng lại phải xa làng để đi tản cư.
0,5đ
    - Tình yêu làng của ông Hai bị đặt vào một tình huống gay cấn, đầy thử thách: tin làng Chợ Dầu theo giặc, phản bội lại cách mạng, kháng chiến.
     - Ông Hai đã phải trải qua tâm trạng đầy dằn vặt, đau đớn, phải đấu tranh tư tưởng rất quyết liệt để lựa chọn con đường đi đúng đắn cho mình. Diễn biến tâm trạng của nhân vật trải qua những trạng thái tình cảm, thái độ khác nhau:
  + Thoạt đầu nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc từ người đàn bà tản cư nói ra, ông bàng hoàng, sững sờ, không thể tin được (cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân, ông lặng đi, tưởng như đến không thở được). Khi cái tin ấy được khẳng định chắc chắn, ông buộc phải tin. Ông đánh trống lảng ra về vì sợ người ta nhận ra mình là người dân làng Chợ Dầu. Trên đường về, ông tủi hổ cứ cúi mặt mà đi.
  + Về đến nhà, ông đau đớn (nằm vật ra giường); tủi thân, thương con (nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư?...); giận lây và trách cứ những người trong làng phản bội, nhưng lòng yêu làng, tin những người cùng làng khiến ông lão bán tín bán nghi (Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình không được đúng lắm. Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được….có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ấy); ông đau đớn tột cùng (Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian!...Suốt cả cái nước Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống  Việt gian bán nước...).
1,25đ
   - Ông Hai tiếp tục bị đặt vào tình huống căng thẳng, quyết liệt hơn khi nghe mụ chủ nhà báo Nghe nói, bảo có lệnh đuổi hết những người làng Chợ Dầu khỏi vùng này không cho ở nữa.
   + Ông lão lo sợ vì tuyệt đường sinh sống (ông Hai ngồi lặng trên một góc giường. Bao nhiêu ý nghĩ đen tối, ghê rợn, nối tiếp bời bời trong đầu ông lão). Ông cảm nhận hết nỗi nhục nhã, thương dân làng Chợ Dầu và thương thân mình phải mang tiếng là dân làng Việt gian (đâu đâu có người Chợ Dầu người ta cũng đuổi như đuổi hủi...mình cũng chẳng còn mặt mũi nào đi đến đâu).
1,25đ
    + Bị đẩy vào đường cùng, tâm trạng vô cùng bế tắc. Ông chớm nghĩ hay là quay về làng nhưng lập tức ông lão phản đối ngay    làm như thế là phản bội cách mạng, phản bội Cụ Hồ. Từ chỗ yêu làng, ông thù làng: về làm gì cái làng ấy nữa. Chúng nó theo Tây cả rồi. Về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ... làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù. Như vậy, tình yêu làng của ông Hai gắn liền với tình yêu nước, tinh thần kháng chiến.
     + Trong những ngày buồn khổ ấy, ông chỉ biết tâm sự với đứa con để củng cố niềm tin vào cách mạng, vào kháng chiến (ông nói với con như để ngỏ lòng mình, như để mình lại minh oan cho mình nữa.).Điều đó thể hiện tình cảm, lòng trung thành của ông với cách mạng, với kháng chiến, với Cụ Hồ (Cái lòng của bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai).

* Nghệ thuật:
  - Tình huống truyện đặc sắc giúp nhân vật bộc lộ tâm trạng cụ thể, đa dạng.
- Tâm trạng nhân vật được miêu tả cụ thể, gợi cảm qua diễn biến nội tâm, ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ nên rất sinh động.
  - Ngôn ngữ kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật đặc sắc, bộc lộ rõ tâm trạng và thái độ của nhân vật.
0,5đ
* Khái quát: diễn biến tâm lý của nhân vật ông Hai đa dạng, phức tạp. Tất cả những trạng thái tâm lý đó làm nổi bật tình yêu làng, yêu nước sâu sắc của ông Hai.
0,5đ
Kết bài
Kết thúc vấn đề, nêu ý nghĩ bản thân.


0,5đ

Lưu ý:
- Cho điểm tối đa khi bài thi đảm bảo tốt cả 2 yêu cầu về kĩ năng và kiến thức.
- Điểm của bài thi là tổng điểm các câu cộng lại; cho điểm từ 0 đến 10.
- Điểm lẻ làm tròn tính đến 0,25 điểm.

—————Hết—————

Thi TN THPT Văn 2008-2009 Đáp án chính thức của BGD


Nếu có hình trong tệp đính kèm này, hình này sẽ không được hiển thị.  Tải xuống tệp đính kèm gốc
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2009
Môn thi: NGỮ VĂN Giáo dục trung học phổ thông

Đề thi:
Phần chung cho tất cả các thí sinh: 5 điểm

Câu 1-2 điểm: Trong truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn, khách ở quán trà nhà lão Hoa đã bàn về những chuyện gì?
Hãy cho biết điều nhà văn muốn nói qua những chuyện ấy!

Câu 2- 3 điểm. Anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) phát biểu ý kiến về tác dụng của việc đọc sách

Phần II. Phần riêng 5 điểm

Câu 3a Theo chương trình Chuẩn- Câu hỏi 5 điểm

Phân tích giá trị nhân đạoc ủa truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài (phần trích trong Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục 2008)

Câu 3b Theo chương trình Nâng cao- Câu hỏi 5 điểm

Phân tích vẻ đẹp của hình tượng sông Hương trong tác phẩm: Ai đã đặt tên cho dòng sông? của nhà vănHoàng Phủ Ngọc Tường (phần trích trong Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập một, NXB Giáo dục 2008)

HƯỚNG DẪN CHẤM THI
(Bản Hướng dẫn chấm thi gồm 03 trang)
I. Hướng dẫn chung
- Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của
thí sinh, tránh cách chấm đếm ý cho điểm.
- Do đặc trưng của bộ môn Ngữ văn nên giám khảo cần chủ động, linh hoạt trong việc vận
dụng đáp án và thang điểm; khuyến khích những bài viết có cảm xúc và sáng tạo.
- Việc chi tiết hoá điểm số của các ý (nếu có) phải đảm bảo không sai lệch với tổng điểm
của mỗi ý và được thống nhất trong Hội đồng chấm thi.
- Sau khi cộng điểm toàn bài, làm tròn đến 0,5 (lẻ 0,25 làm tròn thành 0,5; lẻ 0,75 làm tròn
thành 1,0 điểm).
II. Đáp án và thang điểm
Đáp án
Điểm
I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Trong truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn, khách ở quán trà nhà lão Hoa đã
bàn về những chuyện gì? Hãy cho biết điều nhà văn muốn nói qua những
chuyện ấy.
a) Khách trong quán trà đã bàn về:
− Chuyện chiếc bánh bao tẩm máu tử tù.
0,50
− Chuyện người tù họ Hạ bị chết chém.
0,50
b) Điều nhà văn muốn nói:
− Phản ánh và phê phán sự ngu muội, thiếu hiểu biết của người dân Trung Quốc
đương thời về thuốc chữa bệnh lao.
0,50
− Phản ánh và phê phán sự ngu muội, thiếu hiểu biết của người dân Trung Quốc
đương thời về người cách mạng.
0,50
Câu 1
Lưu ý:
Thí sinh có thể trình bày theo các cách khác nhau nhưng phải nêu đủ các ý
trên, diễn đạt rõ ràng mới đạt điểm tối đa.
Viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) phát biểu ý kiến về tác dụng của
việc đọc sách.
3,00
a. Yêu cầu về kĩ năng:
Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo lí. Kết cấu chặt chẽ,
diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
Câu 2
b. Yêu cầu về kiến thức:
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cần làm rõ được các ý chính
sau:
− Nêu được vấn đề cần nghị luận. 0,25
− Sách là sản phẩm tinh thần của con người; là kho tàng tri thức vô tận của nhân
loại.  0,75
− Đọc sách có nhiều tác dụng: mở rộng, nâng cao hiểu biết trên nhiều lĩnh vực,
bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, lẽ sống; đáp ứng nhu cầu giải trí lành mạnh... cho
con người. 1,00
− Phê phán hiện tượng lười đọc sách và đọc sách thiếu sự lựa chọn. 0,50
− Cần hình thành thói quen đọc sách và biết lựa chọn sách để đọc. 0,50
Lưu ý:
Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức.
II. PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)
Theo chương trình Chuẩn
Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài.
5,00
a. Yêu cầu về kĩ năng:
Biết cách làm bài nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi; phân tích
được giá trị tư tưởng của một tác phẩm. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát;
không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
b. Yêu cầu về kiến thức:
Trên cơ sở những hiểu biết về nhà văn Tô Hoài, truyện ngắn Vợ chồng A Phủ
(chủ yếu phần trích trong Ngữ văn 12, Tập hai) và giá trị nhân đạo trong văn học,
thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cần làm rõ được các ý cơ bản
sau:
Nêu được vấn đề cần nghị luận.0,50
− Tố cáo sự tàn bạo của giai cấp thống trị miền núi (tiêu biểu là cha con thống lí
Pá Tra). 1,00
− Bênh vực và cảm thông sâu sắc với những con người có số phận bất hạnh như
Mị, A Phủ. 1,00
− Trân trọng khát vọng tự do, hạnh phúc và phẩm chất tốt đẹp của người lao
động nghèo miền núi trong xã hội cũ. 1,00
− Đồng tình với tinh thần phản kháng, đấu tranh của những người bị áp bức và
vạch ra con đường giải phóng cho họ. 1,00
− Đánh giá chung về giá trị nhân đạo của tác phẩm.0,50
Câu 3.a
Lưu ý:
Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức.
Câu 3.b Theo chương trình Nâng cao
Phân tích vẻ đẹp của hình tượng sông Hương trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho
dòng sông? của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. 5,00
a. Yêu cầu về kĩ năng:
Biết cách làm bài nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi; phân tích
hình tượng nghệ thuật trong một tác phẩm văn học. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt
lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
b. Yêu cầu về kiến thức:
Trên cơ sở những hiểu biết về nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường và tác phẩm Ai
đã đặt tên cho dòng sông? (chủ yếu phần trích trong Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập
một), thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cần làm rõ được các ý cơ
bản sau:
Nêu được vấn đề cần nghị luận.0,50
Vẻ đẹp được phát hiện ở cảnh sắc thiên nhiên: sông Hương là một công trình
nghệ thuật tuyệt vời của tạo hoá. 1,25
Vẻ đẹp được nhìn từ góc độ văn hoá: sông Hương là dòng sông của âm nhạc,
thơ ca,... 0,75
Vẻ đẹp được nhìn từ góc độ lịch sử: sông Hương là dòng sông của những
chiến công hiển hách.0,75
Vẻ đẹp trong trí tưởng tượng của tác giả: sông Hương đẹp như một thiếu nữ
Huế tài hoa, dịu dàng, đa tình,... Sông Hương càng đáng yêu, quyến rũ hơn khi
gắn liền với cái tôi của Hoàng Phủ Ngọc Tường - tài hoa, uyên bác, giàu tình
cảm và trí tưởng tượng lãng mạn, say mê cái đẹp của thiên nhiên xứ Huế. 1,25
− Đánh giá chung về giá trị của hình tượng. 0,50
Lưu ý :
1. Thí sinh có thể bám theo bố cục tác phẩm để phân tích vẻ đẹp của hình tượng
sông Hương qua từng đoạn: ở thượng nguồn; qua đồng bằng Châu Hoá; qua kinh
thành Huế,... nhưng vẫn phải đảm bảo được các ý cơ bản trên.
2. Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức.
- Hết -




Th TNTHPT 2012 Đề và gợi ý làm bài môn Ngữ Văn


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO                                                             KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2012
                                                                                                                              Môn Thi : NGỮ VĂN -  Giáo Dục Trung Học Phổ Thông
                                                                                                                             Thời gian làm bài : 150 phút, không kể thời gian phát đề
       ĐỀ THI CHÍNH THỨC                                                                               

I. PHẦN CHUNG CHO CÁC THÍ SINH : (5.0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
           
Trong phần cuối tác phẩm Số phận con người, nhà văn M. Sô-lô-khốp viết:
            Hai con người côi cút, hai hạt cát đã bị sức mạnh phũ phàng của bão tố chiến tranh thổi bạt tới những miền xa lạ…
                                                            (Ngữ văn 12, Tập hai, tr.123, NXB Giáo dục – 2008)
            Hai con người được nói đến ở trên là những nhân vật nào ? Vì sao tác giả gọi họ là hai con người côi cút? Hình ảnh hai hạt cát trong câu văn có ý nghĩa gì?
Câu 2.(3.0 điểm)        
            Thói dối trá là biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức trong đời sống xã hội.
            Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.

II. PHẦN RIÊNG – PHẦN TỰ CHỌN : (5,0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu 3.a hoặc câu 3.b)
Câu 3.a. Theo chương trình Chuẩn (5.0 điểm)
            Phân tích đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu:
                                    Ta đi ta nhớ những ngày
                        Mình đây  ta đó, đắng cay ngọt bùi…
                                    Thương nhau, chia củ sắn lùi
                        Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.
                                    Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
                        Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.
                                    Nhớ sao lớp học i tờ
                        Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
                                    Nhớ sao ngày tháng cơ quan
                        Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.
                                    Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
                        Chày đêm nện cối đều đều suối xa…

                                                            (Ngữ văn 12, Tập một, tr.111, NXB Giáo dục – 2009)
                                   
Câu 3.b. Theo chương trình Nâng cao (5.0 điểm)
            Phân tích hình tượng sông Đà trong tác phẩm Người lái đò Sông Đà của nhà văn Nguyễn Tuân (phần trích trong Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập một, NXB Giáo dục – 2009)


BÀI GIẢI GỢI Ý
Cu 1. (2,0 điểm)
          - Hai con người được nói đến ở trên là cựu chiến binh Nga Xô-cô-lốp và bé Va-ni-a. mồ côi. Họ là hai con người côi cút, vì đây là những con người có số phận đau thương mất mát do chiến tranh phát xít gây nên.
- Hình ảnh hai hạt cát trong câu văn gợi liên tưởng đến thân phận nhỏ bé của con người trước bão tố của chiến tranh và nỗi nhọc nhằn mưu sinh trong đời thường. Từ đó, thể hiện nỗi băn khoăn, lo lắng tác giả về tương lai các nhân vật nhưng khâm phục, tin tưởng ở lòng nhân ái và bản lĩnh của con người Nga. Đồng thời đặt ra vấn đề xã hội cũng cần quan tâm đến cá nhân con người, nhất là những người có đóng góp, hi sinh lớn cho cộng đồng. Những hình ảnh này đã góp phần làm rõ tư tưởng nhân đạo sâu sắc của nhà văn Sô-lô-khốp trong tác phẩm Số phận con người.
Câu 2.
            1) Mở bài :
            - Giới thiệu luận đề : “Thói dối trá là biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức trong đời sống xã hội.
            - Chuyển ý.
            2) Thân bài :
            a. Giải thích : thế nào là dối trá; suy thoái về đạo đức.
            - Dối trá là không trung thực, không thành thật, nói và làm không thống nhất với nhau nhằm một mục đích không tốt đẹp.
            - Suy thoái về đạo đức là không tuân theo những chuẩn mực đạo đức mà xã hội quy định, là sự suy sụp và băng hoại về đạo đức. Ví dụ : sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo; “khẩu phật tâm xà”; không tôn trọng luật pháp…
            b. Bàn luận :
            - Vì sao nói dối trá là biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức trong đời sống xã hội?
            + Làm cho mọi người nhìn nhận vấn đề không đúng với bản chất theo ý đồ của mình (dẫn chứng).
            + Làm cho mọi chuẩn mực không được nhìn nhận đúng (dẫn chứng).
            + Gây ra nhiều tác hại nguy hiểm về đạo đức, làm cho cuộc sống không ổn định (dẫn chứng).
+ Tạo ra sự đau khổ và căm ghét trong lòng người khác khi họ biết mình bị dối trá (dẫn chứng).
- Làm thế nào để ngăn chặn thói dối trá trong xã hội :
+ Từ trong gia đình, nhà trường, xã hội phải tôn trọng mọi chuẩn mực về đạo đức đã được quy định.
+ Bản thân mỗi người phải ý thức dối trá được hôm nay không dối trá được mãi mãi.
+ Tuy nhiên đôi khi có những lời nói dối “nhân đạo”. Ví dụ : không nói với người bệnh khi họ bị bệnh nan y hoặc khi muốn dấu đi một sự thật có thể gây nguy hiểm cho người khác.
            c. Mở rộng :
            - Sống trung thực là biểu hiện cao đẹp nhất của người có nhân cách.
            - “Vương quốc của những người nói dối rộng khắp thế gian” chúng ta cần kiên trì, bình tĩnh và có bản lĩnh khi sống chung với những người nói dối, kiên quyết đấu tranh để loại bỏ thói nói dối.
            3) Kết luận :
            - Khẳng định “Thói dối trá là biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức trong đời sống xã hội”.
            - Nêu bài học về nhận thức và hành động của bản thân.
II. PHẦN RIÊNG – PHẦN TỰ CHỌN (5,0 điểm)
Câu 3.a.
Đây là phần nghị luận văn học. Thí sinh được chọn một trong hai đề. Dù làm đề nào thí sinh cũng phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản của đề. Về nội dung, thí sinh có thể triển khai vấn đề một cách đa dạng theo nhận thức của mình. Sau đây là một số gợi ý mà bài viết của thí sinh cần có :
Với câu 3a
            1) Giới thiệu tác giả :
Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam . Các chặng đường thơ của Tố Hữu luôn gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng , những chặng đường vận động trong quan điểm tư tưởng và bản lĩnh nghệ thuật của chính nhà thơ.
            2) Giới thiệu bài thơ và đoạn thơ :
Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi. Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Tháng 10/1954, trung ương Đảng, chính phủ và Hồ Chủ tịch từ giã Việt Bắc về lại Thủ đô Hà Nội. Một trang lịch sử mới của dân tộc đã mở ra. Tố Hữu là một trong số những cán bộ kháng chiến từng sống gắn bó nhiều năm với Việt Bắc, nay từ biệt chiến khu để về xuôi. Sự  kiện lịch sử đó đã mang lại cho Tố Hữu cảm xúc để viết nên bài thơ Việt Bắc .
            Đoạn thơ trong đề bài thuộc phần lời thơ của người cán bộ cách mạng về xuôi trả lời người Việt Bắc. Toàn bộ đoạn thơ thể hiện tình cảm thương nhớ của người cán bộ cách mạng đối với cảnh vật, con người, kỷ niệm ở Việt Bắc trong những năm kháng chiến vừa qua.
            3) Phân tích:
- Trước hết, đó là tình cảm thương nhớ đối với kỷ niệm những ngày tháng đồng cam cộng khổ (4 câu đầu).
+ Từ xưng hô “mình, ta” : thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa người cán bộ cách mạng và Việt Bắc.
+ Ta đi ta nhớ, mình đây ta đó : kết cấu đối xứng thể hiện giọng thơ rắn rỏi, nói lên tình cảm gắn bó tha thiết, nhớ thương của người cán bộ đối với Việt Bắc.
+ Đắng cay, ngọt bùi : từ ngữ tương phản nói lên kỷ niệm phong phú, sâu sắc của cán bộ trong những tháng ngày gian khổ nơi Việt Bắc và với người dân Việt Bắc.
+ Chia, sẻ, đắp cùng : những động từ bộc lộ tình cảm đồng cam cộng khổ của Việt Bắc và cách mạng.
- 2 câu tiếp : Trong nỗi nhớ của người cán bộ, hình ảnh người dân Việt Bắc hiện lên chân thật và đầy xúc động với hình ảnh “người mẹ nắng cháy lưng / địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô”. Đó là người lao động nghèo khổ, neo đơn nhưng dạt dào ân tình với cách mạng, không ngại vất vả, cực khổ lao động góp phần tạo nên lương thực cho cách mạng nuôi quân. Hình ảnh thơ giàu sức gợi, phản ánh tình cảm sắc son của đồng bào dân tộc đối với cách mạng.
+ Nắng cháy lưng : hình ảnh hiện thực có sức gợi thời tiết khắc nghiệt, qua đó nói lên sự vất vả, gian khổ.
+ Địu con lên rẫy : lời thơ giản dị, cũng là hình ảnh hiện thực, gợi lên hoàn cảnh neo đơn của người mẹ dân tộc.
+ Từ đó tình cảm sắc son cao đẹp của người dân tộc đối với cách mạng càng hiện lên rõ nét.
- 4 câu tiếp theo : Con người và cảnh vật gắn bó với nhau. Nhớ về con người Việt Bắc, người cán bộ cách mạng lại nhớ trở lại những kỷ niệm gắn bó ở Việt Bắc. Đó là kỷ niệm với những lớp học bình dân học vụ (lớp học i tờ), những đêm liên hoan văn nghệ giữa núi rừng, những ngày tháng công tác ở cơ quan, gian nan nhưng lạc quan, đầy ắp yêu thương với tiếng hát , tiếng ca vang dội cả núi rừng.
+ Đồng khuya đuốc sáng : lời thơ gợi lên hình ảnh những đêm liên hoan văn nghệ, vui vẻ tưng bừng nơi rừng núi.
+ Ca vang núi đèo : lời thơ mang tính chất ẩn dụ, phản ánh tinh thần lạc quan, tình cảm đoàn kết gắn bó giữa cách mạng và người dân Việt Bắc.
- 2 câu cuối : cảnh vật Việt Bắc với nét gợi cảm trong buổi chiều và đêm tối, hiện lên sống động, tha thiết trong nỗi nhớ của người cán bộ về xuôi.
+ Từ nghi vấn “sao” kết hợp với “nhớ” làm cho giọng thơ trở nên tha thiết, phù hợp với tâm trạng của người cán bộ cách mạng về xuôi.
+ Rừng chiều, suối xa : hình ảnh thơ gợi lên khung cảnh trữ tình, gợi cảm của núi rừng Việt Bắc.
+ Cảnh vật được mô tả với chi tiết về âm thanh (tiếng mỏ, chày đêm nện cối) thể hiện khung cảnh đặc trưng của núi rừng. Am thanh vang vọng gợi tới những ký ức xa xôi nhưng tha thiết và đầy ám ảnh trong tâm tư của những kẻ chia li.
- Xuyên suốt phần thơ là sự hiện diện của điệp từ “nhớ” được sử dụng 5 lần, trong đó 3 lần được kết hợp với từ “sao” đã tạo nên giọng thơ đầy ắp cảm xúc, đầy ắp nhớ thương ở người cán bộ ra đi.
            4) Đánh giá :
- Về nội dung : cả phần thơ là một khúc tình ca tha thiết thể hiện nỗi nhớ của người cán bộ về xuôi với cảnh vật và con người Việt Bắc. Nó có cội nguồn sâu xa từ tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào về sức mạnh của nhân dân, truyền thống ân nghĩa, đạo lí thuỷ chung của dân tộc Việt Nam. Phần thơ khắc sâu lời nhắn nhủ của Tố Hữu : Hãy nhớ mãi và phát huy truyền thống yêu nước quý báu, anh hùng, bất khuất, nhân nghĩa thủy chung của cách mạng, của con người Việt Nam.
- Về nghệ thuật :
+ Cấu tứ của bài thơ là cấu tứ của ca dao với hai nhân vật trữ tình là ta mình, người ra đi và người ở lại đối đáp với nhau. Nhưng ở đây, cấu tứ đó được thể hiện một cách gián tiếp qua việc sử dụng từ “mình, ta” trong lời của người cán bộ cách mạng.
+ Tố Hữu đã phát huy được nhiều thế mạnh của thể lục bát truyền thống. Nhà thơ rất chú ý sử dụng kiểu tiểu đối của ca dao, chẳng những có tác dụng nhấn mạnh ý mà còn tạo ra nhịp điệu uyển chuyển, cân xứng, hài hoà, làm cho lời thơ dễ nhớ, dễ thuộc, thấm sâu vào tâm tư.
+ Về ngôn ngữ, Tố Hữu chú ý sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân rất giản dị, mộc mạc nhưng cũng rất sinh động để tái hiện lại một thời cách mạng và kháng chiến đầy gian khổ mà dạt dào tình nghĩa.
5) Tổng kết : Đây chỉ là một đoạn thơ 12 câu trong tổng số 150 câu của bài thơ nhưng những thành công của nó về nội dung và nghệ thuật có thể xem là tiêu biểu cho giá trị của cả bài thơ. Mỗi câu thơ, lời thơ của đoạn thơ này một khi đã để lại những ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc sẽ tạo nên được những rung động, những nghĩ suy để nhớ mãi lời nhắn nhủ về ân tình thủy chung, đoàn kết gắn bó giữa cách mạng và nhân dân như ý nghĩa sâu xa của thông điệp mà Tố Hữu muốn nhắn gửi trong bài thơ này.

Câu 3.b. (Không bắt buộc, nhưng thí sinh cũng nên nêu khái niệm về thể loại Tùy bút: là thể thể loại văn học trung gian giữa tự sựtrữ tình)
            A. SÔNG ĐÀ HUNG BẠO, HIỂM ÁC (Vẻ đẹp kì vĩ và dữ dội của thiên nhiên Tây Bắc)
            1. Sông Đà hung bạo  
- Nét dữ dội đầu tiên của con sông là những thác nước gầm réo muôn đời:
            Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng.
            - Con sông chợt trở nên hung bạo hơn khi sóng nước reo hò làm thanh viện cho đá, mặt nước hò la vang dậy quanh mình ùa vào mà bẻ gãy cán chèo (...). Có lúc chúng đội cả thuyền lên.
            2. Sông Đà hiểm ác
            - Có những quãng sông đầy thác ghềnh, lòng sông như bày một thạch trận chực nuốt chìm những con thuyền non tay lái:
            Mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông. Đám tảng, đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông, đòi ăn chết cái thuyền.
            - Phép nhân hóa được tận dụng để tả thạch trận mà khúc sông đã bày ra theo một chiến thuật hiểm ác:
            Vòng đầu vừa rồi nói mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh, cửa sinh này nằm nằm lập lờ phía tả ngạn sông. Vòng thứ hai tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn.
            Bên cạnh hình ảnh hung bạo, hiểm ác là hình ảnh con sông Đà hiền hòa, thơ mộng, hai bờ sông tràn đầy cảnh sắc tươi vui.
            B. SÔNG ĐÀ THƠ MỘNG, HIỀN HÒA
            1. Con sông thơ mộng được mô tả từ trên cao: Con Sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc...
            Nước sông đổi thay tùy mùa tiết: Mùa xuân dòng xanh như ngọc bích... Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ...
            2. Con sông hiền hòa
            - Có những quãng ven sông lặng tờ: Hình như từ đời Lí, đời Trần, đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa.
            - Nét hiền hòa ấy làm cho cảnh vật trở nên gợi cảm, làm cho khách trên đò chợt mơ màng như nghe tiếng con hươu đang thủ thỉ: "Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương (...) của một chuyến xe lửa đầu tiên" trong tưởng tượng của tác giả.
            - Biện pháp nhân hóa và ẩn dụ được vận dụng: Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải...
            3. Hai bờ sông Đà tràn ngập cảnh sắc tươi vui của một cuộc sống mới đang bắt đầu, nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa (...) một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ tranh đẫm sương đêm (...), đàn cá đầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi.
            Nhìn chung, cái đẹp của sông Đà có khi do những nét hùng tráng, dữ dội, có khi từ những dáng nét, thanh sắc êm dịu, mượt mà được thể hiện bằng một phong cách độc đáo, tài hoa với những hình ảnh chọn lọc, từng ngôn từ chuẩn mực, tài hoa,  câu, đoạn văn giàu tính nhạc.
C. Cái tôi trữ tình của tác giả.
- Giọng điệu trữ tình tha thiết qua những câu văn bộc lộ tình yêu tha thiết về quê hương dắt nước: Chao ôi, trong con sông….; Chao ôi, thấy thèm được giật mình…
- Nhìn sông Đà như một cố nhân
III. KẾT LUẬN
-          Nguyễn Tuân nhìn thiên nhiên và con người trong hòan cảnh khắc nghiệt, đồng thời cảm nhận thiên nhiên và con người ở cả phương diện thẩm mĩ, tài hoa.
-          Hình tượng hóa quê hương, đất nước sau khi hòa bình lập lại qua hình ảnh con sông đầy sức sống.
            Sông Đà nói chung và Người lái đò sông Đà chính là áng thơ trữ tình bằng văn xuôi ca ngợi tổ quốc giàu đẹp, thể hiện niềm tin yêu cuộc sống mới đang diễn ra trên đất nước ta.


Cao Thị Đan Thanh
(Trung tâm LTĐH Vĩnh Viễn – TP.HCM)