Hiển thị các bài đăng có nhãn Chiếc thuyền ngoài xa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chiếc thuyền ngoài xa. Hiển thị tất cả bài đăng

TS ĐH 2013: Đề và gợi ý môn Văn Khối D

ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2013
Môn: NGỮ VĂN; Khối: D
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề
I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm):
            Câu 1 (2,0 điểm)
Trong tùy bút Người lái đò Sông Đà  (Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013), Nguyễn Tuân từng nhìn “Sông Đà như một cố nhân”.
            Người “cố nhân” ấy có tính nết như thế nào? Cách ví von này có ý nghĩa gì?
            Câu 2 (3,0 điểm):
            Đi dọc đất nước với tâm nguyện tìm hiểu nguồn cội bằng trải nghiệm của chính mình, chàng trai Việt kiều Tran Hung John có một nhận xét:
            Phần nhiều người Việt Nam có tính cách thụ động, là những người đi theo chứ không phải người tiên phong. Nếu có ai đó đi trước và thử trước, tôi sẽ theo sau chứ không bao giờ là người dẫn đường. Áp lực xã hội khiến bạn phải đi theo con đường đã được vẽ sẵn.
(John đi tìm Hùng, NXB Kim Đồng, 2013, tr.113)
            Anh/chị có đồng tình với ý kiến trên không? Hãy trao đổi với Tran Hung John và bày tỏ quan điểm sống của chính mình (bài viết khoảng 600 từ).

II. PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu 3.a hoặc câu 3.b)
            Câu 3.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
            Nhận định về niềm khát khao tận hưởng sự sống trong bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu, từng có ý kiến cho rằng: đó là tiếng nói của cái tôi vị kỉ tiêu cực. Lại có ý kiến khẳng định: đó là tiếng nói của cái tôi cá nhân tích cực.
Từ cảm nhận của mình về niềm khát khao đó, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên.
            Câu 3.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)
            Về nhân vật Phùng trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, có ý kiến cho rằng : nét nổi bật ở người nghệ sỹ này là một tâm hồn nhạy cảm và say mê cái đẹp thơ mộng của cảnh vật. Ý kiến khác thì nhấn mạnh: vẻ đẹp sâu xa của nghệ sĩ Phùng chính là một tấm lòng đầy trăn trở, lo âu về thân phận con người.
            Từ cảm nhận của mình về nhân vật Phùng, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên.
BÀI GIẢI GỢI Ý
I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH
Câu 1: Nguyễn Tuân ví sông Đà như một cố nhân.
-Cố nhân đó có tính nết “hung bạo và trữ tình”.
-Cách ví von đó thể hiện tình yêu say đắm và niềm tự hào về quê hương xứ sở. Đó là vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước qua hình ảnh con sông Tây Bắc vừa kì vĩ, dữ dội vừa thơ mộng trữ tình.
Câu 2: Thí sinh cần đáp ứng những yêu cầu cơ bản của câu hỏi : Viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ về ý kiến : Phần nhiều người Việt Nam có tính cách thụ động, là những người đi theo chứ không phải người tiên phong. Nếu có ai đó đi trước và thử trước, tôi sẽ theo sau chứ không bao giờ là người dẫn đường. Áp lực xã hội khiến bạn phải đi theo con đường đã được vẽ sẵn.
Thí sinh có thể trình bày bài viết theo những nội dung cụ thể khác nhau. Sau đây là một số gợi ý :
            - Giới thiệu ý kiến của đề bài: Phần nhiều người Việt Nam có tính cách thụ động, là những người đi theo chứ không phải người tiên phong. Nếu có ai đó đi trước và thử trước, tôi sẽ theo sau chứ không bao giờ là người dẫn đường. Áp lực xã hội khiến bạn phải đi theo con đường đã được vẽ sẵn.
            - Giải thích :
            + Thụ động : thường ngồi yên hay đứng yên một chỗ để nhận những tác động từ hoàn cảnh khách quan và từ người khác. Người tiên phong: là người đi trước. Áp lực xã hội là những ý thức hệ, những tập quán, những thành kiến, những lời bình phẩm…
            + Ý kiến trên chỉ là một sự thống kê và quan sát chưa đầy đủ của tác giả, hiển nhiên có một bộ phận không nhỏ những người Việt Nam rất thụ động, thường làm theo những điều xấu và điều tốt của người khác, nhưng thật ra cũng có rất nhiều người Việt Nam đã đi tiên phong trong nhiều lĩnh vực về khoa học, văn hóa, nghệ thuật… cũng như những sáng tạo trong chiến đấu và xây dựng đất nước (học sinh cần có những ví dụ cụ thể).
            + Đồng ý một phần với tác giả là có một số người Việt Nam thụ động và sống theo áp lực của xã hội đi theo những con đường đã có sẵn. Tuy nhiên, bản chất của người Việt Nam ham học hỏi, thích sáng tạo, tìm tòi… và cũng không ít người Việt Nam đã thành công trên trường quốc tế, do đó ý kiến trên là chưa chính xác.
            - Không phải lúc nào cũng là người tiên phong, dẫn đầu. Cũng có lúc nên đi theo những truyền thống tốt đẹp đã có sẵn
- Phải biết trân trọng, ca tụng những người sáng tạo tiên phong trong lĩnh vực như văn hóa, văn học, nghệ thuật, khoa học, đời sống…
- Cần chọn lựa một phong cách sống phù hợp với áp lực xã hội, phù hợp với hoài bão ước mơ và sở thích của chính mình. Sẵn sàng làm người đi theo những điều tốt và tình nguyện làm kẻ dẫn đường để khai phá một thế giới tốt đẹp hơn.
Câu 3a: Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng phải đảm bảo những ý cơ bản sau đây:
A.Giới thiệu:
-Tác giả
-Tác phẩm
-Nhận định
B.Nội dung:
1.Là tiếng nói của cái tôi vị kỉ tiêu cực
-Trước cách mạng tháng tám, thơ Xuân Diệu mang hai tâm trạng trái ngược: “vừa thiết tha yêu đời vừa hoài nghi cô đơn”. “Vội vàng” là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ của ông trước cách mạng tháng tám.
-Xuân Diệu nhìn đời bằng đôi mắt đa tình, nên hình ảnh thiên nhiên và cuộc sống luôn mang vẻ đẹp xuân tình.
+Cuộc sống đầy ngọt ngào, tươi tắn, đẹp đẽ, gợi cảm và đầy xuân sắc: “tuần tháng mật”; “đồng nội xanh rì”; “khúc tình si”; “cặp môi gần”.
            +Thế nhưng, nỗi ám ảnh về sự trôi chảy vô tình, lạnh lùng của thời gian dẫn đến sự tàn, phai, rơi, rụng khiến nhà thơ buồn bã, hoài nghi và trách móc: ở ngay trong mùa xuân mà đã “hoài xuân”; “lòng tôi rộng” nhưng “lượng trời cứ chật”; “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”; tất cả “đều rớm vị chia phôi”; và than vãn “Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…”.
-Nhận xét:
+Đó là biểu hiện nỗi lo lắng về đời người hữu hạn.
+Bộc bạch cái tôi chân thành khi vui cũng như khi buồn.
+Đó không phải là cái tôi vị kỉ tiêu cực, mà sợ cái đẹp của cuộc sống tàn phai.
2.Là tiếng nói của cái tôi cá nhân tích cực:
-Một vòng ôm “ham hố” tham lam thật đáng yêu trước thiên nhiên, cuộc sống tươi đẹp, rạng ngời, tình tứ: Cả sự sống “mới bắt đầu mơn mởn”; “mây đứa và gió lượn”; “cánh bướm với tình yêu”,…
-Trạng thái tâm hồn ngây ngất, cuồng nhiệt và đắm say biểu hiện qua hàng loạt động từ: ôm, riết, thâu, cắn,…
-Nhận xét:
+Biểu hiện tình yêu cuộc sống tha thiết.
+Một quan niệm sống mới mẻ, tích cực.
3.Nhận định chung
-“Vội vàng” là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng giây, từng phút của cuộc đời mình, nhất là những tháng năm tuổi trẻ của một hồn thơ yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt.
-Tư tưởng đó được thể hiện qua một hình thức nghệ thuật điêu luyện: sự kết hợp nhuần nhị giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí, giọng điệu say mê, sôi nổi, những sáng tạo độc đáo về ngôn từ và hình ảnh thơ.

Câu 3b: Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng phải đảm bảo những ý cơ bản sau đây:
A.Giới thiệu:
-Tác giả: Nguyễn Minh Châu là nhà văn của bút pháp “đi tìm hạt ngọc ẩn tàng trong tâm hồn con người”.
-Tác phẩm: “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu với nhân vật Phùng có hai ý kiến nhận xét về nét nổi bật của người nghệ sĩ này :
+ “Một tâm hồn nhạy cảm và say mê cái đẹp thơ mộng của cảnh vật”.
+ “Vẻ đẹp sâu xa của người nghệ sĩ Phùng chính là tấm lòng đầy trăn trở, lo âu về thân phận con người”.
B.Nội dung:
- Tóm về nhân vật Phùng gắn liền nhiệm vụ tìm một tấm ảnh đẹp bổ sung bộ lịch và phát hiện hai hình ảnh của chiếc thuyền ngoài xa và chiếc thuyền đến gần.
- Khai thác :
1. “Một tâm hồn nhạy cảm và say mê cái đẹp thơ mộng của cảnh vật”:
® chiếc thuyền ngoài xa là cảnh đắt trời cho được nghệ sĩ thu vào máy ảnh bằng cả tâm hồn nhạy cảm với cảnh vật, nét đẹp hài hòa giữa hình ảnh và ánh sáng.
® Nên ở Phùng nếu thiếu một trái tim nhạy cảm và say mê cảnh đẹp như bức tranh mực tàu của chiếc thuyền ngoài xa khó tạo một tấm ảnh tuyệt đỉnh của ngoại cảnh “ngắm kĩ thấy màu hồng hồng của ánh sương mai”.
® Với cái đẹp tuyệt đỉnh này nếu dừng lại người nghệ sĩ chỉ tạo được cái thần của cảnh thiếu cái hồn của cuộc sống.
2. Khi chiếc thuyền đến gần, người nghệ sĩ Phùng tiếp tục khám phá đời sống của gia đình hàng chài được đánh giá “Vẻ đẹp sâu xa của người nghệ sĩ Phùng chính là tấm lòng đầy trăn trở, lo âu về thân phận con người”
® Với cảnh chồng đánh vợ như trút cơn giận lửa cháy vào tấm lưng áo bạc phếch rách rưới để rồi đau đớn và nguyền rủa “Mày chết đi cho ông nhờ - Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ” khẳng định cuộc sống đói nghèo làm con người tha hóa trong sự trăn trở của người nghệ sĩ đầy tâm huyết với cuộc đời. Và người vợ lại cam chịu nhẫn nhục từ lòng yêu chồng, thương con cũng được khám phá từ tâm hồn người nghệ sĩ theo bút pháp khám phá trái tim của người phụ nữ Việt Nam yêu chồng thương con. Cho đến lúc Phùng chứng kiến sự xuất hiện của đứa con đánh bố với quyết tâm nhất định tiêu diệt bạo lực gia đình làm cho tâm trạng của mẹ xấu hổ đau đớn tủi nhục cũng chính là tâm hồn của nghệ sĩ Phùng đang lo âu về thân phận con người về sự tha hóa của trẻ con khi chứng kiến bạo lực của người lớn.
® Nên với phần kết thúc tác phẩm “nhìn lâu thấy hình ảnh người đàn bà bước ra từ tấm ảnh với tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá – giậm chân trên mặt đất chắc chắn hòa lẫn vào trong đám đông” nhấn mạnh trách nhiệm của người nghệ sĩ khi khai thác, khám phá đối tượng của văn học là con người trong cuộc sống đời thường.
- Cảm nhận của người viết về hai ý kiến này :
+ Có phải chăng đây là quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” và “nghệ thuật vị nhân sinh” cộng hưởng trong sự khai thác của nhân vật Phùng cũng chính là nhà văn Nguyễn Minh Châu để tạo một tác phẩm văn học có giá trị.
Nguyễn Hữu Dương - Nguyễn Đức Hùng - Đinh Phan Cẩm Vân
Trung tâm luyện thi Vĩnh Viễn


TSĐH 2013- Môn Văn đề và gợi ý Khối C

ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2013
Môn: NGỮ VĂN; Khối: C
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề
I. PHN CHUNG:
            Câu 1:
Trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam, ấn tượng của nhân vật Liên về Hà Nội có những nét nổi bật nào. Hình ảnh Hà Nội có ý nghĩa gì đối với đời sống tâm hồn Liên?
            Câu 2:
            Nhìn lại vốn văn học dân tộc, nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu có nêu một nhận xét về lối sống của người Việt Nam truyền thống là:
Không ca tụng trí tuệ mà ca tụng sự khôn khéo. Khôn khéo là ăn đi trước, lội nước theo sau, biết thủ thế, giữ mình, gỡ được tình thế khó khăn.
(Theo Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, tr. 160-161)
Từ nhận thức về những mặt tích cực và tiêu cực của lối sống trên, anh/chị hãy bày tỏ quan điểm sống của chính mình (bài viết khoảng 600 từ).
II. PHẦN RIÊNG:
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu 3.a hoặc câu 3.b)
            Câu 3.a: Theo chương trình Chuẩn
            Hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, có ý kiến cho rằng : người lính ở đây có dáng dấp của tráng sĩ thuở trước. Ý kiến khác thì nhấn mạnh: hình tượng người lính mang đậm vẻ đẹp chiến sĩ thời kháng chiến chống Pháp.
Từ cảm nhận của mình về hình tượng này thì anh/chị bình luận về ý kiến trên.
            Câu 3.b: Theo chương trình Nâng cao
            Có ý kiến cho rằng : sự nhẫn nhục của nhân vật Từ (Đời thừa -  Nam Cao) không đáng trách chỉ đáng thương; còn sự nhẫn nhục của người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu) thì vừa đáng thương vừa đáng trách.
Từ cảm nhận của mình về hai nhân vật này, anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên.

BÀI GIẢI GỢI Ý
Câu 1:
-          Ấn tượng của nhân vật Liên về Hà Nội có những nét nổi bật :
+ Hà Nội vui vẻ, sáng rực và huyên náo.
+ Hồi ức về Hà Nội tươi đẹp mà tuổi thơ đã từng thụ hưởng khác với phố huyện đầy bóng tối mà chúng đang sống.
à Ý nghĩa :
- Ánh sáng, niềm hy vọng về cuộc sống. Ánh sáng trong tâm hồn Liên khi chờ đợi chuyến tàu đêm từ Hà Nội đi qua phố huyện.
- Đã sống trong hoàn cảnh tăm tối, đơn điệu. Đừng bao giờ đánh mất sự khao khát sống. Đây là tư  tưởng nhân đạo mới của tác giả nêu bật sự thức tỉnh cá nhân về sự tồn tại của mỗi người khi họ biết khao khát và ước mơ.
Câu 2:
Đề bài yêu cầu thí sinh “từ những nhận thức về những mặt tích cực và tiêu cực” của lối sống “Không ca tụng trí tuệ mà ca tụng sự khôn khéo. Khôn khéo là ăn đi trước, lội nước theo sau, biết thủ thế, giữ mình, gỡ được tình thế khó khăn” mà “bày tỏ quan điểm sống của chính mình” . Từ yêu cầu đó, thí sinh cần : nêu được những mặt tích cực  và tiêu cực của lối sống trên; sau đó bày tỏ quan điểm sống của chính mình trong phạm vi bài viết khoảng 600 từ.
Thí sinh có thể triển khai bài viết theo những nội dung cụ thể khác nhau. Đây chỉ là một số gợi ý :
Mở bài:
-          Giới thiệu thầy Trần Đình Hượu, chuyên viên về những vấn đề tư tưởng của văn học Trung Đại, người có nhiều tác phẩm bàn về những đặc sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam
-          Giới thiệu đề: trong đó có nhận xét về lối sống của người Việt Nam truyền thống: Không ca tụng trí tuệ mà ca tụng sự khôn khéo. Khôn khéo là ăn đi trước, lội nước theo sau, biết thủ thế, giữ mình, gỡ được tình thế khó khăn.
Thân bài:
-          Lối sống trên có những mặt tích cực và tiêu cực:
+ Không ca tụng trí tuệ :
·               Tiêu cực : trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến trình độ nhất định. Nó có vai trò lớn trong cuộc sống. Nó giúp con người nhận thức đúng bản chất của sự vật, hiện tượng, giúp con người phát hiện, khám phá những quy luật của sự vật, của đời sống. Nó là cơ sở, nền tảng cho sự khám phá và sáng tạo.  Nó soi đường cho hành động của con người trong thực tế.
·               Tích cực : Cuộc sống phức tạp. Bên cạnh hai giá trị đúng sai, còn có những giá trị khác mà không phải lúc nào cũng dễ dàng phán quyết đúng sai. Có những sự việc không thể dễ dàng tách biệt rạch ròi đen trắng. Bên cạnh trí tuệ, lí trí, con người lại có tình cảm, mà con tim có những lý lẽ mà không phải lúc nào cũng thống nhất với lí trí do vậy không quá đề cao trí tuệ, không đòi hỏi sự rạch ròi, dứt khoát, giúp con người ta dễ chín bỏ làm mười, dễ tạo được một cuộc sống hòa hợp.
+ Ca tụng khôn khéo. Ăn đi trước, lội nước theo sau:
·               Tiêu cực : lối sống này dễ dẫn người ta rơi vào kiểu sống hưởng thụ, ích kỷ, khôn vặt, đẩy sự khó khăn về người khác, chọn cho mình sự dễ dàng.
·               Tích cực : Khôn khéo là khôn ngoan và khéo léo trong cách xử sự. Trong thực tế, tương quan giữa con người  với những lực lượng khác có khi quá chênh lệch, hoàn cảnh vượt quá khả năng, khi đó một thái độ khôn khéo thủ thế, giữ mình, gỡ được tình thế khó khăn là một thái độ thức thời của người biết ẩn nhẫn, đợi thời cơ, “biết trồng tre đợi ngày thành gậy, đi trả thù mà không sợ dài lâu”.
·               Theo thầy Trần Đình Hượu : Sỡ dĩ người Việt Nam có lối sống trên đó là do về tâm lý, người Việt Nam an phận thủ thường, nhẫn nhịn, chín bỏ làm mười, không cần hoàn toàn rạch ròi đen trắng (thậm chí như câu tục ngữ “Thẳng mực tàu, đau lòng cổ” và về ý thức, đó là kết quả của ý thức lâu đời về sự nhỏ yếu, thực tế khó khăn, nhiều bất trắc của người Việt Nam trong cuộc sống ngày xưa.
-          Quan điểm sống của riêng em:
+ Cần đề cao vai trò quan trọng của trí tuệ. Cho nên cần phải tích cực học tập, trau dồi tri thức, xem nó là cơ sở nền tảng cho sự phát triển, sáng tạo của bản thân. Phát triển trí tuệ bằng thái độ học tập suốt đời với phương pháp tự học chủ động hiệu quả.
+ Tuy nhiên, trong cuộc sống không quá duy lý, bởi thực tế và có nhiều khi “Bên ngoài là lý, bên trong là tình”. Sự đồng ý kết hợp cùng sự đồng tình sẽ có hiệu quả tốt hơn sự rạch ròi lí trí.
+ Cần đề cao sự khôn khéo vì nó có những hiệu quả thiết thực, nhất là khi thế và lực của bản thân còn yếu. Khôn khéo để tạo được hòa khí, sự đoàn kết trong môi trường sống, học tập và làm việc. Điều này chắc chắn có ích cho cuộc sống bản thân và những người chung quanh.
+ Tránh biến sự khôn khéo thành kiểu sống ích kỷ, khôn vặt, khôn lỏi mà luôn chân thật, nhân hậu, biết người biết ta.
Kết bài :
Mỗi thời có những đặc điểm riêng, cách sống riêng. Hoàn cảnh ngày nay, khác với ngày xưa, cho nên theo em cần có sự dung hòa giữa việc đề cao trí tuệ và cách sống khôn khéo.
Câu 3.a : Hình tượng người lính trong bài thơ Tây tiến
  1. Đặt vấn đề
-          Giới thiệu nhà thơ Quang Dũng và bài thơ Tây tiến.
-          Hai hình tượng chính trong bài thơ Tây tiến: người chiến binh Tây tiến và thiên nhiên Tây Bắc.
-          Hình ảnh người chiến binh Tây tiến là sự hòa quyện vẻ đẹp của những tráng sĩ xưa và vẻ đẹp của người lính thời kì kháng chiến chống Pháp của dân tộc.
  1. Giải quyết vấn đề
Thí sinh cần làm rõ hình tượng người lính trong Tây tiến mang vẻ đẹp của tráng sĩ xưa nhưng họ vẫn là những là hình ảnh tiêu biểu cho người lính thời kháng chiến chống Pháp.
2.1              Vẻ đẹp của lí tưởng anh hùng
-          Mang lí tưởng anh hùng, quyết ra đi lập nên sự nghiệp lớn. Chí lớn chưa thành không bao giờ trở lại. Hình tượng xuyên suốt bài thơ là hình tượng con đường hành quân của người chiến binh. Kết thúc là hình ảnh con đường Tây tiến thăm thẳm mở ra vô tận, vô cùng: “Tây tiến người đi không hẹn ước. Đường lên thăm thẳm một chia phôi”. (Thí sinh nên liên hệ phân tích với Chinh phụ ngâm, Tống biệt hành…). Trong không khí cuộc kháng chiến chống Pháp, người lính Tây tiến nguyện “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”:  “ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.
-          Sống với lí tưởng anh hùng; chết trong tư thế anh hùng của những tráng sĩ thuở xưa; “Áo bào thay chiếu anh về đất”. Không chỉ thế, cái chết của người lính Tây tiến còn mang âm hưởng dữ dội của cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ, hào hùng: “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
2.2              Sự gian khổ của cuộc chiến và vẻ đẹp tâm hồn
Đây là điểm Quang Dũng đã bám sát cuộc kháng chiến chống Pháp để mô tả, mang đến hình ảnh người lính không khí của thời đại.
-          Cuộc sống người lính đầy gian khổ, hi sinh: những dãi dầu trên con đường hành quân, hình ảnh đoàn quân mỏi, những nấm mồ viễn xứ
-          Vượt lên những gian khổ hi sinh là cái nhìn lãng mạn của tâm hồn tuổi trẻ.
Câu 3.b:  
-          Hình tượng người phụ nữ Việt Nam là sợi chỉ đỏ chi phối xuyên suốt văn học Việt Nam từ xưa đến nay. Qua mỗi nhà văn, hình tượng này được khai thác từ phẩm chất chịu thương, chịu khó với gia đình. Từ trong “Đời thừa” (Nam Cao) không đáng trách mà chỉ đáng thương, còn sự nhẫn nhục của người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu) thì vừa đáng thương, vừa đáng trách.
-          Khai thác nhân vật Từ :
+ Đối với Hộ khi còn độc thân, thì nghèo đói không nghĩa lý gì đối với kẻ say mê lý tưởng. Do Hộ mang hoài bão lớn muốn viết một tác phẩm đoạt giải Nobel vì mang đậm giá trị nhân đạo.
+ Nhưng khi lập gia đình với Từ, Hộ đối đầu với chuyện áo cơm. Vấn đề đó với người nghệ sĩ nghèo không phải là vấn đề đơn giản. Còn Từ chỉ biết sinh con, chăm sóc con và gia đình, điều đó trở thành hạnh phúc đối với người đàn bà này.
+ Và có những lúc Hộ bàn luận chuyện văn chương và tin tức về một người bạn đã thành công với một tác phẩm không lớn, Hộ đã uống rượu và trút cơn giận vào Từ. Từ là một người vợ đáng thương chỉ biết chịu đựng chăm sóc cho chồng, ôm con thui thủi một mình và vẫn tiếp tục dõi theo và chăm sóc chồng lúc say.
+ Đến lúc Hộ tỉnh rượu, thấy trên bàn có bình nước đầy hãy còn ấm, thấy vợ khổ sở nằm trên võng, anh hối hận.
+ Qua hình ảnh này, chúng ta đồng ý với ý kiến là Từ đáng thương nhưng không đáng trách vì luôn nghĩ đến trách nhiệm của một người  vợ cho dù bị đánh đập. Thật đúng với hình tượng người phụ nữ Việt Nam luôn yêu chồng, thương con không hề biết đến bản thân.
à Sau 1975, văn học đổi mới với hình tượng người đàn bà hàng chài trong tác phẩm
“Chiếc thuyền ngoài xa”.
-          Nếu Từ cũng có một gia đình đông con và một người chồng vất vả vì sinh kế thì người đàn bà hàng chài của Nguyễn Minh Châu cũng thế. Nên hắn thường trút cơn giận như lửa cháy vào tấm lưng áo bạc phếch rách rưới của vợ khi cho rằng sự nghèo đói của gia đình do vợ sinh quá nhiều con.
-          Và hình ảnh người đàn bà Việt Nam một lần nữa được tôn vinh qua sự nhẫn nhục “Nhẫn nhục cam chịu những trận đòn không hề kêu vang, không chống trả, không chạy trốn”. Do nghĩ đến chồng, hiểu chồng đánh mình không phải vì ghét bỏ mà vì nghèo đói.
+ Vì không muốn cho con biết nên bật lên trái tim người mẹ - người vợ.
+ Tuy nhiên, sự nhẫn nhục của bà đã trở thành nạn nhân của bạo lực. Một là đứng về phía hình tượng người phụ nữ Việt Nam bà thật đáng thương bởi chỉ biết sống vì chồng vì con, hiểu chồng và thương con. Bởi nếu bà chạy trốn chồng trả thù thì tăng thêm cơn giận của chồng trút vào con.
+ Nhưng lại rất đáng trách khi bà chấp nhận những trận đòn để bạo lực tiếp tục diễn biến từ người lớn chuyển sang con nít thì cái ác sẽ tăng gấp đôi, gấp ba bởi chồng đánh vợ không phải bằng lòng căm thù mà chỉ trút cơn giận vì bị bế tắc trước cuộc sống vật chất đã làm tha hóa con người, còn con đánh bố và nhất định giết cho được bố vì cầm dây lưng quất vào ngực bố và có giấu dao ở trong người.
·         Hai ý kiến hoàn toàn đúng vì :
-          Từ sự tương đồng của Từ và người đàn bà hàng chài đều là sự nhẫn nhục. Do yêu chồng, thương con nhưng với Từ thì thật là đáng thương khi luôn nghĩ rằng mình và đàn con là “gánh nặng cơm áo gạo tiền của chồng”, còn sự nhẫn nhục của người đàn bà hàng chài là sự cam chịu làm chúng ta xót thương nhưng bà không thể nào là nạn nhân của bạo lực được vì bà vẫn cùng chồng, cùng con lao động trên biển cả và cũng có những giây phút hạnh phúc hiếm hoi với chồng khi nhìn đàn con được ăn no. Tại sao lại chấp nhận những trận đòn vô lý này nên chúng ta đồng ý với ý kiến : sự nhẫn nhục của Từ không đáng trách chỉ đáng thương, còn sự nhẫn nhục của người đàn bà hàng chài vừa đáng thương vừa đáng trách.
à Từ đó theo cách tiếp nhận văn học “Người đọc là người cùng sáng tác với nhà văn” chúng ta đề ra một phương thức để người phụ nữ Việt Nam không chỉ biết thương con, chăm sóc gia đình mà phải góp thêm một phần trọng trách, vừa đồng hành với chồng khi tìm kế mưu sinh mà phải biết đối kháng bằng tình thương với những hành động không đúng của chồng.
------------------

Nguyễn Hữu Dương - Nguyễn Đức Hùng - Đinh Phan Cẩm Vân
Trung tâm luyện thi Vĩnh Viễn


Đề và gợi ý làm bài đề thi cao đẳng 2012 : Môn Văn


ĐỀ THI TUYỂN SINH CAO ĐẲNG NĂM 2012
Môn: NGỮ VĂN; Khối: C, D

I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Trong đoạn kết truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, nhân vật Huấn Cao đã khuyên viên quản ngục điều gì sau khi cho chữ? Câu nói “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” của viên quản ngục có ý nghĩa như thế nào?
Câu 2 (3,0 điểm)
Nghề nghiệp không làm nên sự cao quý cho con người mà chính con người mới làm nên sự cao quý cho nghề nghiệp.”
Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh / chị về ý kiến trên.

II. PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu của phần riêng (câu 3.a hoặc câu 3.b)
Câu 3.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm). Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau trong Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm :
                        Nhưng em biết không
                        Có biết bao người con gái, con trai
                        Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
                        Họ đã sống và chết
                        Giản dị và bình tâm
                        Không ai nhớ mặt đặt tên
                        Nhưng họ đã làm ra Đất Nước
                        Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
                        Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
                        Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
                        Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân
                        Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái
                        Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
                        Có nội thù thì vùng lên đánh bại
                        Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân
(Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 121)

Câu 3.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm).
 Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” đã thể hiện cái nhìn thấu hiểu và trĩu nặng tình thương của nhà văn Nguyễn Minh Châu đối với con người.
Anh/chị hãy phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa (phần trích trong Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập hai, NXB Giáo dục, 2009) để làm sáng tỏ nhận định trên.
BÀI GIẢI GỢI Ý
Câu 1. Trong đoạn kết truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, nhân vật Huấn Cao đã khuyên viên quản ngục : Tìm về nhà quê mà ở; thoát khỏi cái nghề này đi; rồi hãy nghĩ đến việc chơi chữ (nếu không) khó giữ thiên lương lành vững, nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.
            Câu nói “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” của viên quản ngục có ý nghĩa thể hiện thái độ và đặc điểm con người của viên quản ngục:
            - Viên quản ngục đồng tình với lời khuyên Huấn Cao : muốn chơi chữ (thưởng thức giá trị cao quý của cái đẹp) thì phải biết giữ thiên lương trong sạch (lương tâm, phẩm giá bản thân cao đẹp), cuộc sống xứng đáng (không nhem nhuốc). Muốn vậy, phải biết từ bỏ nơi sống, việc làm không tốt.
            - Viên quản ngục thể hiện thái độ khiêm tốn tự hạ mình. Ông tự nhận mình là “kẻ mê muội”.
            - Viên quản ngục tỏ thái độ trân trọng, tôn vinh, ngưỡng mộ đối với Huấn Cao. Ông xem Huấn Cao là người sáng suốt đã khai sáng cho ông là “kẻ mê muội” được nhìn thấy chân lý mà ông xin “bái lĩnh” (lạy mà nhận lấy).
            Chính vì vậy, trong tác phẩm, Nguyễn Tuân đã đánh giá viên quản ngục là một “thanh âm trong trẻo giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”.
Câu 2. Thí sinh cần đáp ứng đúng các yêu cầu cơ bản của đề bài: Viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến: “Nghề nghiệp không làm nên sự cao quý cho con người mà chính con người mới làm nên sự cao quý cho nghề nghiệp”.
Thí sinh có thể trình bày nội dung theo những cách thức khác nhau. Sau đây là một cách làm cụ thể :
- Giới thiệu vấn đề: có ai đó đã nói rằng : “điều quan trọng nhất của con người là chọn cho mình một nghề để mưu sinh và sống với nó đến cuối đời”. Tuy nhiên, có nhiều người đã chọn nghề theo xu hướng của dư luận. Việc chọn lầm nghề để lại những hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân và xã hội. Vì vậy đã có ý kiến cho rằng “Nghề nghiệp không làm nên sự cao quý cho con người mà chính con người mới làm nên sự cao quý cho nghề nghiệp”. Sau đây chúng ta thử phân tích và bàn luận về ý kiến trên.
- Giải thích :
+ Nghề nghiệp là công việc chuyên môn, làm theo sự phân công lao động của xã hội.
+ Phân công xã hội ngày càng nhiều, càng sâu nên xã hội có nhiều ngành nghề và giữ vị trí khác nhau trong xã hội.
+ Xã hội thường xuyên phát triển; có nghề nghiệp mới phát sinh nhưng cũng có những nghề nghiệp phải bị tàn lụi. Do đó có nghề dễ mang lại sự thành công (danh tiếng, tiền của, địa vị…) nhưng cũng có nghề không được như vậy. Cho nên dẫn đến sự tồn tại trong xã hội quan niệm về sự cao quý, sang hèn, tốt xấu… trong nghề nghiệp.
- Bàn luận:
+ Nghề nghiệp không làm nên sự cao quý cho con người
* Mỗi nghề đều có đặc điểm, vị trí riêng trong cuộc sống xã hội.
* Nghề nghiệp nảy sinh từ nhu cầu xã hội, do đó mọi nghề đều cần thiết cho cuộc sống, vì thế mỗi nghề đều có vai trò không thể thiếu được trong đời sống xã hội, do đó nghề chân chính nào cũng đều cao quý cả.
* Tuy nhiên do đặc trưng riêng của một số ngành nghề, do ý nghĩa đặc biệt của nó đối với đời sống, một số ngành nghề được đặc biệt biểu dương: nghề dạy học, nghề thầy thuốc…
+ Mà chính con người mới làm nên sự cao quý cho nghề nghiệp
* Con người là chủ thể của hoạt động nghề nghiệp, có tính chất quyết định đối với giá trị của hoạt động nghề nghiệp.
* Con người có giá trị tự thân, chịu ảnh hưởng của môi trường, hoàn cảnh. Vì vậy có kẻ tốt, người xấu, chính vì thế điều này tạo nên giá trị của nghề nghiệp.
* Trong những ngành nghề được biểu dương đặc biệt vẫn có những “con sâu làm rầu nồi canh”. Trong những ngành nghề do bị thành kiến mà bị coi thường vẫn có những con người cao quý, có cách hành xử được mọi người ngưỡng mộ, ca ngợi.
* Làm rõ tại sao con người mang đến sự cao quý cho nghề nghiệp (dẫn chứng). Chính tư cách và đức hạnh sáng ngời của con người làm cho người khác phải tôn trọng nghề nghiệp của họ.
- Bài học nhận thức và hành động:
+ Cần nhận thức: không nên có tư tưởng phân biệt nghề sang trọng, cao quý và nghề thấp hèn. Cần phê phán quan niệm phân biệt này vì nó không đúng đắn, nó tồn tại trong xã hội phong kiến ngày xưa và không nên tiếp tục trong cuộc sống ngày nay.
+ Cần thấy những việc làm không chính đáng: ví dụ  như trộm cướp, gian dối… để kiếm sống không phải là nghề nghiệp chân chính như chúng ta đang bàn.
+ Cần thấy giá trị đúng đắn của nghề nghiệp; nghề nghiệp chân chính nào cũng có giá trị và đều đáng được trân trọng. “Giá trị của một con người là lợi ích của họ mang lại cho người khác chứ không phải là nghề nghiệp của họ”.
+ Cần có thái độ đúng đắn khi chọn nghề. Không nên chạy theo quan điểm hời hợt (sang hèn…) về nghề nghiệp của một số người. Cần chọn nghề phù hợp với năng lực, với ước mơ, hoàn cảnh của bản thân, nhu cầu và sự phát triển của xã hội.
+ Với nghề nghiệp cần “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, chuyên tâm rèn luyện tay nghề, giữ gìn lương tâm nghề nghiệp, trao dồi đạo đức để làm hiển vinh nghề nghiệp, giá trị bản thân.
            - Tổng kết : “Không phải nghề nghiệp mang đến sự cao quý cho con người mà chính con người mang đến sự cao quý cho nghề nghiệp” là một ý kiến đúng đắn, nó là một lời khuyên, một lời nhắc nhở đối với mọi người nhất là đối với thanh niên đang đứng trước ngưỡng cửa lựa chọn nghề nghiệp.
Câu 3.a.
I. GIỚI THIỆU
-  Đất Nước trích  từ “Mặt đường khát vọng” là trường ca độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm, ra đời trong chiến tranh ác liệt thời chống Mĩ, tại chiến trường Trị - Thiên - một điểm nóng - trên chiến trường miền Nam vào năm 1971. Bài thơ đã truyền đến người đọc bao xúc động, tự hào về đất nước và nhân dân.
- Đoạn thơ sau thể hiện quan niệm lớn của nhà thơ về “Đất nước này là Đất Nước của nhân dân”
(Trích đoạn thơ)
II. NỘI DUNG
(Thí sinh có thể trình bày nhiều cách nhưng đảm bảo những nội dung cơ  bản sau đây)
  1. Giới thiệu chung
- Bài “Đất nước” là chương V của trường ca này. Tác giả đã sử dụng một cách sáng tạo các chất liệu - thi liệu từ tục ngữ, ca dao dân ca, từ truyền thuyết cổ tích đến phong tục, ngôn ngữ… của nền văn hoá dân tộc để khơi nguồn cảm hứng về Đất nước, một Đất nước có nguồn gốc lâu đời, một Đất nước của Nhân dân vĩnh hằng muôn thuở.
  1. Xác định vị trí và nội dung đoạn trích
-         Vị trí : từ câu 66 đến câu 81.
-         Nội dung: Thể hiện tư tưởng chủ đạo “Đất Nước của Nhân dân”
  1. Những hy sinh thầm lặng của cha ông ta trong suốt lịch sử đất nước
-         Tâm hồn giản dị.
-         Là những con người bình thường “vô danh” mà tâm hồn cao đẹp
-         Hy sinh vì Đất Nước một cách bình thản và đầy trách nhiệm.
  1. Truyền lửa sống và giữ hồn dân tộc
- Ý thức dân tộc “truyền giọng điệu mình” cho thế hệ sau.
-  Mang theo hồn Đất Nước “ tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân”
- Lao động với tất cả tấm lòng  yêu thương vì con cháu “người sau trồng cây hái quả”.
- Suốt hàng ngàn năm lịch sử, chính Nhân Dân là những người sáng tạo nên Đất Nước này: “Không ai nhớ mà đặt tên - Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”. Hạt lúa do bàn tay dân ta trồng; lấy hòn than, con cúi để giữ lửa; truyền cho con cháu tiếng nói ông cha; đắp đập be bờ để làm ra cây trái. Họ “đã làm” và “đã giữ”, “họ truyền”, “họ đắp đập be bờ”... và “bốn nghìn lớp người” đã làm nên tất cả:
Ngôn ngữ thơ (giữ và truyền, gánh, đắp đập be bờ) được nhấn đi nhấn lại để tô đậm truyền thống cần cù lao động của Nhân Dân - chủ nhân của Đất Nước.
“Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại”.
- Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” là sự ngợi ca mồ hôi và xương máu của nhân dân. “Không có mồ hôi và máu thì các dân tộc không thể có lịch sử” (Ăngghen). Chính vì thế mà nhà thơ trẻ này đã viết:
“Để Đất Nước là Đất Nước Nhân dân,
Một câu thơ hai lần nhắc lại từ “Đất Nước”, hai lần láy lại từ “Nhân dân”, biểu lộ biết bao tình thương mến!.
C. Nhận định chung                                                                                                                 
- Ở phần sau, tất cả đều quy chiếu về tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”. Đó là một chân lí cao cả mà giản dị biết bao ! Một chân lí đã được nhận thức trong suốt quá trình phát triển dài lâu của lịch sử đất nước, để rồi nó cất lên thành lời tuyên ngôn đầy nhiệt huyết và vang động sâu xa.
- Đất Nước” với những câu thơ mở rộng đậm đặc chất văn xuôi. Yếu tố chính luận và chất trữ tình, chất cảm xúc hòa quyện, làm cho chất thơ dào dạt, ý tưởng sâu sắc, mới mẻ.
II. KẾT LUẬN
- Một thể thơ tự do đầy phóng khoáng với việc tiếp thu các chất liệu dân gian hết sức độc đáo và tài hoa của nguyễn Khoa Điềm. Đoạn thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hình thức trữ tình – chính trị với các chất liệu từ ca dao, cổ tích, huyền thoại,…
- Thể hiện tư tưởng cốt lõi và tiến bộ.
Câu 3.b. Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần làm nổi bật các nội dung cơ bản sau:
            I. Mở bài:
            - Giới thiệu tác giả Nguyễn Minh Châu.
            - Giới thiệu tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”.
            - Giới thiệu luận đề: “Qua nhân vật người đàn bà hàng chài, tác giả thể hiện cái nhìn thấu hiểu và trĩu nặng tình thương đối với con người”.
            II. Thân bài:
            1. Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài:
            a/ Người đàn bà hàng chài là một người phụ nữ lao động có bề ngoài lam lũ, xấu xí; cuộc sống vất vả, nghèo đói nhưng lại là một con người sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời:
- Ngoại hình: bà ta có một thân hình “cao lớn, thô kệch”, mặt rỗ, khuôn mặt mệt mỏi.
- Hoàn cảnh: làm nghề chài lưới, thuyền nhỏ, con đông; việc kiếm sống khó khăn, “có lúc trời làm động biển, cả nhà phải ăn xương rồng luộc chấm muối” hàng tháng.
- Tâm hồn, tính cách:
+ Nhẫn nhục, cam chịu:
. Thầm lặng chịu đựng những trận đòn dữ dội của chồng “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” như một cách để chia sẻ sự thay đổi tâm tính của chồng.
. Khi đến tòa án huyện gặp chánh án Đẩu và được khuyên li hôn, bà ta đã khiến cho Đẩu và Phùng ngạc nhiên với hành động “chắp tay vái lia lịa” và nói “Quý tòa bắt tội con cũng được, bỏ tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”.
+ Thấu hiểu lẽ đời, sâu sắc:
. Thể hiện qua sự thay đổi thái độ của bà ta với Đẩu và Phùng: từ chỗ xưng hô “quý tòa – con” chuyển sang “các chú – chị”
. Qua câu chuyện cuộc đời của người phụ nữ không có nhan sắc “cả phố không ai lấy”; được anh con trai hàng chài “cục tính nhưng hiền lành” lấy làm vợ, ta thấy dường như trong tình cảm của bà giành cho người chồng vũ phu có cả sự biết ơn.
. Bà ta đã dùng những lý lẽ sâu sắc để giải thích cho thái độ cam chịu: làm nghề hàng chài trên thuyền cần phải có “một người đàn ông để chèo chống khi phong ba bão táp”; cần có một người chồng chỉ vì những đứa con của bà cần được sống và lớn lên trong sự chăm sóc của cả cha lẫn mẹ.
. Bà ta hiểu sâu sắc hành động vũ phu của người chồng chẳng qua chỉ vì gia đình nghèo khổ, con cái nheo nhóc, không gian sống ngột ngạt “thuyền nào cũng trên dưới chục đứa con”.
b/ Người đàn bà hàng chài còn là một người phụ nữ giàu đức hy sinh:
- Trong khổ đau triền miên, bà ta vẫn chắt lọc được những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi “trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ”.
- Niềm hạnh phúc lớn nhất của bà là những lúc “ngồi nhìn đàn con tôi, chúng nó được ăn no”.
- Đó là những lý do giải thích tại sao người đàn bà ấy sống nhẫn nhục, chịu đựng, không muốn ly hôn. Ẩn đằng sau sự nhẫn nhục ấy là một bản năng sinh tồn mãnh liệt và một tấm lòng hy sinh rất đáng trân trọng.
2. Chứng minh Nguyễn Minh Châu đã thể hiện cái nhìn thấu hiểu và trĩu nặng tình thương đối với con người:
- Nguyễn Minh Châu được xem là nhà văn đi tiên phong của văn học Việt Nam thời kì đổi mới. Từ những tác phẩm xuất sắc về đề tài chiến tranh, ông chuyển sang cảm hứng thế sự đời tư với ngòi bút đậm màu sắc đạo đức và triết lý nhân sinh. “Chiếc thuyền ngoài xa” thể hiện xuất sắc phong cách tự sự - triết lý của ông.
- Với “Chiếc thuyền ngoài xa”, ông đã chọn được một nhan đề có ý nghĩa sâu sắc, khái quát được mối quan hệ giữa nghệ thuật với đời sống và gởi gắm một thông điệp quan trọng: “Nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống nhưng cuộc sống không phải bao giờ cũng là nghệ thuật”. Từ đó, nhà văn muốn nói rằng: không được có cái nhìn một chiều, hời hợt khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật cũng như khám phá những bí ẩn bên trong thân phận con người.
- Tác giả đã chọn được một tình huống truyện độc đáo, mang tính phát hiện và vẻ đẹp tâm hồn của người đàn bà hàng chài là phát hiện mang chất nhân văn nhất.
- Nghệ thuật đối lập tương phản đã được nhà văn sử dụng như một biện pháp nghệ thuật cơ bản của tác phẩm. Đó là đối lập giữa nghệ thuật và cuộc sống; giữa bên ngoài và bên trong; kể cả tính cách nhân vật cũng được phát hiện trên các mặt đối lập.
- Từ tất cả những điều đã nói ở trên, có thể khẳng định “Chiếc thuyền ngoài xa” đã thể hiện cái nhìn thấu hiểu và trĩu nặng tình thương của Nguyễn Minh Châu đối với con người. Chính điều đó đã làm nên một tác phẩm vừa có giá trị hiện thực đặc sắc vừa có giá trị nhân đạo cao cả.
III. Kết luận:
- Khẳng định tác phẩm đã thể hiện rõ nét tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả dành cho những số phận bất hạnh, lam lũ.
- Tác phẩm đã để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc với những triết lý nhân sinh độc đáo.
TS. Đinh Phan Cẩm Vân
(Trung tâm LTĐH Vĩnh Viễn – TP.HCM)

Đề - Đáp án chính thức môn Văn THPT 2011

Năm học 2010-2011
Môn thi : NGỮ VĂN – Giáo dục trung học phổ thông

I. Phần chung cho tất cả thí sinh (5,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Trong đoạn cuối truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, nhân vật nghệ sĩ Phùng mỗi khi ngắm kĩ và nhìn lâu hơn tấm ảnh do mình chụp thường thấy hiện lên những hình ảnh nào? Những hình ảnh đó nói lên điều gì?

Câu 2 (3,0 điểm)

Trước nhiều ngả đường đi đến tương lai, chỉ có chính bạn mới lựa chọn được con đường đúng cho mình.

Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.

II. Phần riêng - Phần tự chọn (5,0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu 3.a hoặc câu 3.b)

Câu 3.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)

Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
(Ngữ văn 12, Tập một, tr.88, NXB Giáo dục - 2009)

Câu 3.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)

Phân tích nhân vật Tràng trong truyện Vợ Nhặt của Kim Lân ( phần trích trong Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập hai, NXB Giáo dục - 2008)


-------------------------
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 
ĐỀ THI CHÍNH THỨC  
     KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2011
                                                     Môn thi: NGỮ VĂN  Giáo dục trung học phổ thông
HƯỚNG DẪN CHẤM THI  
(Văn bản gồm 02 trang) 
I. Hướng dẫn chung
1. Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của
thí sinh, tránh cách chấm đếm ý cho điểm.
2. Do đặc trưng của bộ môn Ngữ văn nên giám khảo cần chủ động, linh hoạt trong việc vận
dụng đáp án và thang điểm; khuyến khích những bài viết có cảm xúc và sáng tạo. 
3. Việc chi tiết hoá điểm số của các ý (nếu có) phải đảm bảo không sai lệch với tổng điểm
của mỗi ý và được thống nhất trong Hội đồng chấm thi. 
4. Sau khi cộng điểm toàn bài, làm tròn đến 0,5 (lẻ 0,25 làm tròn thành 0,5; lẻ 0,75 làm tròn
thành 1,0 điểm).
II. Đáp án và thang điểm 
1
CÂU
ĐÁP ÁN 
ĐIỂM
I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Trong đoạn cuối truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh 
Châu, nhân vật nghệ sĩ Phùng mỗi khi ngắm kĩ  nhìn lâu hơn tấm ảnh 
do mình chụp thường thấy hiện lên những hình ảnh nào? Những hình 
ảnh đó nói lên điều gì? 
- Những hình ảnh thường hiện lên là: 
+ Màu hồng hồng của ánh sương mai. 
0,5
+ Người đàn bà vùng biển (người đàn bà hàng chài) bước ra từ tấm ảnh. 
0,5
- Những hình ảnh đó nói lên: 
+ Chất thơ, vẻ đẹp lãng mạn của cuộc sống. 
0,5
+ Hiện thực về số phận lam lũ, khốn khó của con người. 
0,5
Câu 1 
(2,0 đ) 
Lưu ý: Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng phải nêu đủ các ý trên,
diễn đạt rõ ràng mới được điểm tối đa. 
Trình bày suy nghĩ về ý kiến: Trước nhiều ngả đường đi đến tương lai, chỉ
có chính bạn mới lựa chọn được con đường đúng cho mình.
a. Yêu cầu về kĩ năng 
Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát;
không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. 
b. Yêu cầu về kiến thức 
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng luận điểm phải rõ ràng, lí lẽ
và dẫn chứng hợp lí; cần làm rõ được các ý chính sau: 
- Nêu được vấn đề cần nghị luận. 
0,5
- Giải thích: có nhiều ngả đường đi đến tương lai; sự sáng suốt lựa chọn của 
chính bản thân có vai trò quyết định thành công và hạnh phúc của mỗi người.
0,5
- Bàn luận: 
+ Để lập thân, lập nghiệp, hướng đến một tương lai tốt đẹp, mỗi người cần chủ
động, sáng suốt lựa chọn một con đường cho chính mình dựa trên khả năng, 
sở thích của cá nhân.  
+ Tuy nhiên, do bản thân chưa có đủ kinh nghiệm nên sự giúp đỡ, tư vấn của
gia đình, nhà trường và những người đi trước là cần thiết. 
+ Phê phán những người không tự quyết định hướng đi cho cuộc đời mình 
hoặc chạy theo những trào lưu không phù hợp với bản thân, ... 
0,5
0,5
0,5
Câu 2 
(3,0 đ) 
- Bài học nhận thức và hành động: tuổi trẻ cần xác định được vai trò quyết 
định của chính bản thân trong việc lựa chọn hướng đi; khi lựa chọn, cần căn 
cứ vào những yếu tố cần thiết. 
0,5


2
Lưu ý:
- Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức.
- Nếu thí sinh có những suy nghĩ riêng mà hợp lí thì vẫn được chấp nhận. 
II. PHẦN RIÊNG - PHẦN TỰ CHỌN (5,0 điểm)
Theo chương trình Chuẩn 
Phân tích đoạn thơ trong bài Tây Tiến của Quang Dũng.
a. Yêu cầu về kĩ năng 
Biết cách làm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ. Kết cấu chặt chẽ, diễn 
đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. 
b. Yêu cầu về kiến thức 
Trên cơ sở những hiểu biết về nhà thơ Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến, thí 
sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cần làm rõ được các ý cơ bản sau:
- Nêu được vấn đề cần nghị luận. 
0,5
- Cảm xúc chủ đạo trong đoạn thơ là nỗi nhớ da diết của tác giả về miền Tây 
và đoàn quân Tây Tiến.  
0,5
- Bức tranh thiên nhiên núi rừng miền Tây hùng vĩ, dữ dội, bí hiểm mà thơ
mộng, trữ tình. 
1,5
- Hình ảnh người lính trên chặng đường hành quân đầy gian nan, nguy hiểm;
tuy vất vả, hi sinh nhưng vẫn ngang tàng, trẻ trung, lãng mạn. 
1,0
- Nghệ thuật: kết hợp hài hoà giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn; ngôn ngữ
giàu tính tạo hình, giàu nhạc điệu; biện pháp tu từ đặc sắc; ... 
1,0
- Đánh giá chung về đoạn thơ. 
0,5
Câu 3.a 
(5,0 đ) 
Lưu ý: Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến
thức.
Theo chương trình Nâng cao 
Phân tích nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.
a. Yêu cầu về kĩ năng 
Biết cách làm bài nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi; biết cách 
phân tích một hình tượng nhân vật. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không
mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. 
b. Yêu cầu về kiến thức 
Trên cơ sở những hiểu biết về nhà văn Kim Lân và truyện ngắn Vợ nhặt (chủ
yếu phần trích trong Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập hai), thí sinh có thể trình bày
theo nhiều cách, nhưng cần làm rõ được các ý cơ bản sau: 
- Nêu được vấn đề cần nghị luận. 
0,5
- Tràng là người dân ngụ cư nghèo khổ, có phẩm chất hiền lành, tốt bụng; sẵn
lòng cưu mang người đồng cảnh ngộ trong nạn đói khủng khiếp. 
1,0
- Trong hoàn cảnh khốn cùng vẫn khát khao hạnh phúc, có ý thức tạo dựng 
mái ấm gia đình.  
1,0
- Khát vọng sống mãnh liệt; có niềm tin vào tương lai tươi sáng. 
1,0
- Nghệ thuật: nhân vật được đặt trong tình huống truyện độc đáo; diễn biến 
tâm lí được miêu tả chân thực, tinh tế; ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, phù hợp 
với tính cách nhân vật. 
1,0
- Đánh giá chung về nhân vật. 
0,5
Câu 3.b 
(5,0 đ) 
Lưu ý: Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến
thức.
--------Hết----------
Bổ sung chấm câu 1 của BGD
Kính gửi: Các sở giáo dục và đào tạo

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Công văn số 392/KTKĐCLGD-KT ngày 04/6/2011 về việc Hướng dẫn chấm thi tốt nghiệp THPT năm 2011. Trong đó, Hướng dẫn chấm thi môn Ngữ văn - Giáo dục THPT nêu đáp án và thang điểm cho Câu 1 như sau:

a) Cho 1,0 điểm đối với ý thứ nhất - Những hình ảnh thường hiện lên là:

Màu hồng hồng của ánh sương mai (0,5 điểm); Người đàn bà vùng biển (người đàn bà hàng chài) bước ra từ tấm ảnh (0,5 điểm);

b) Cho 1,0 điểm đối với ý thứ hai - Những hình ảnh đó nói lên:

Chất thơ, vẻ đẹp lãng mạn của cuộc sống (0,5 điểm); Hiện thực về số phận lam lũ, khốn khó của con người (0,5 điểm).

2. Theo tinh thần đề mở và đáp án mở, để đảm bảo đúng nguyên tắc chấm thi, đồng thời khuyến khích những sáng tạo của thí sinh trong khi bài thi; trên cơ sở đề nghị bổ sung của Tổ ra đề thi môn Ngữ văn của Hội đồng ra đề thi tốt nghiệp THPT năm 2011, Bộ đề nghị các đơn vị chỉ đạo Chủ tịch các Hội đồng chấm thi yêu cầu Tổ chấm thi môn Ngữ văn vận dụng Hướng dẫn chấm thi để cho điểm đối với ý thứ hai Câu 1 như sau:

a) Nếu thí sinh không trả lời trực tiếp, cụ thể như trong đáp án mà nêu được ý tưởng nghệ thuật của tác giả về mối quan hệ giữa nghệ sĩ với hiện thực, nghệ thuật với cuộc sống: có thể cho từ 0,5 điểm trở lên, với điều kiện tổng số điểm cho ý này không quá 1,0 điểm;

b) Nếu thí sinh phân tích kĩ và sâu sắc ý đã nêu: có thể cho tới tối đa 1,0 điểm, với điều kiện tổng số điểm cho ý này không quá 1,0 điểm.

Nhận được Công văn này, các đơn vị khẩn trương nghiên cứu và triển khai./.