Hiển thị các bài đăng có nhãn Những ngôi sao xa xôi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Những ngôi sao xa xôi. Hiển thị tất cả bài đăng

TS10 Năm 2015: Gợi ý làm bài môn Văn tại Hà Nội

KÌ THI TUYỂN SINH LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Khóa ngày 11 tháng 06 năm 2015 tại Hà Nội
Môn thi : VĂN
Thời gian: 120 phút (không tính thời gian giao đề)
ĐỀ CHÍNH THỨC

Phần I: (7 điểm)
            Mở đầu một sáng tác, nhà thơ Huy Cận viết:
                        Mặt trời xuống biển như hòn lửa
            Và tác giả khép lại bài thơ bằng bốn câu:
                        Câu hát căng buồm với gió khơi,
                        Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
                        Mặt trời đội biển nhô màu mới
                        Mắt cá huy hoàng muôn dặm khơi.
                        (Trích Ngữ Văn 9, tập một, NXB Giáo dục 2014)
1.      Ghi tên bài thơ có những câu thơ trên. Từ những câu thơ ấy, kết hợp với hiểu biết về tác phẩm, em hãy cho biết mạch cảm xúc của bài thơ được triển khai theo trình tự nào?
2.      Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ so sánh trong câu thơ: Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
3.      Chép lại chính xác hai câu thơ liên tiếp trong bài thơ em vừa xác định thể hiện rõ nhất lòng biết ơn của con người với biển cả quê hương.
4.      Viết một đoạn văn ngắn khoảng 12 câu theo cách lập luận diễn dịch có sử dụng phép thế để liên kết và một câu cảm thán, làm nổi bật cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh ở khổ thơ trên (gạch dưới từ ngữ dùng làm phép thế và câu cảm thán)
Phần II (3 điểm)
            Dưới đây là đoạn trích trong tác phẩm Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê:
            … Vắng lặng đến đáng sợ. Cây còn lại xơ xác. Đất nóng. Khói đen vật vờ từng cụng trong không trung, che đi những gì từ xa. Các anh cao xạ có nhìn thấy chúng tôi không? Chắc có, các anh ấy có những cái ống dòm có thể thu cả trái đất vào tầm mắt. Tôi đến gần quả bom. Cảm thấy có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình, tôi không sợ nữa. Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đàng hoàng mà bước tới.
(Trích Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục 2014)
1.      Tác phẩm Những ngôi sao xa xôi được sang tác trong hoàn cảnh nào?
2.      Điều gì khiến nhân vật “tôi” đến gần quả bom lại cảm thấy không sợ nữa?
3.      Từ đoạn trích trên và những hiểu biết về xã hội, em hãy viết một đoạn văn (khoảng nửa trang giấy thi) trình bày suy nghĩ về thái độ của mỗi người trong mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể
-----------------Hết----------------



BÀI GIẢI GỢI Ý
Phần I:
  1. Bài thơ có tên là “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận.
      Mạch cảm xúc của bài thơ được triển khai theo trình tự thời gian của buổi lao động từ lúc hoàng hôn cho đến lúc bình minh trên biển cả.
2.   Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ so sánh trong câu thơ: Mặt trời xuống biển như hòn lửa:
- Hình tượng hóa hình ảnh mặt trời trong buổi hoàng hôn.
- Thể hiện sự tưởng tượng đặc sắc của nhà thơ Huy Cận về hình ảnh mặt trời trong buổi hoàng hôn.
- Thể hiện xúc cảm của nhà thơ trong buổi chiều khi nhìn thấy mặt trời từ từ khuất dần dưới mặt nước biển.
- Tạo một tiền đề để làm nổi bật hình ảnh người ngư dân trong hai câu cuối của khổ thơ: Mặt trời khuất dần trên mặt biển như kết thúc một ngày lao động; trong khi đó, đây lại là thời điểm người ngư dân bắt đầu cho một buổi lao động mới: “Mặt trời xuống biển như hòn lửa/ Sóng đã cài then đêm sập cửa”, nhưng “Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi” và trong tâm thế “Câu hát căng buồm cùng gió khơi
3. Hai câu thơ liên tiếp trong bài thơ thể hiện rõ nhất lòng biết ơn của con người với biển cả quê hương:
Biển cho ta cá như lòng mẹ
      Nuôi lớn đời ta tự thuở nào
4. Thí sinh phải đáp ứng những yêu cầu của đề bài: viết một đoạn văn ngắn khoảng 12 câu theo cách lập luận diễn dịch, có sử dụng phép thế để liên kết, có một câu cảm thán với nội dung làm nổi bật cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh ở khổ thơ trên. Lưu ý phải gạch dưới từ ngữ dùng làm phép thế. Sau đây là một gợi ý để tham khảo:

(1) Khổ thơ cuối cùng của bài thơ miêu tả hình ảnh người ngư dân và đoàn thuyền đánh cá trở về trong buổi bình minh: “Câu hát căng buồm với gió khơi/ Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời/ Mặt trời đội biển nhô màu mới/ Mắt cá huy hoàng muôn dặm khơi.” (2) Sau một đêm lao động đầy nhọc mệt nhưng thắng lợi, người ngư dân đã trở về trong tâm trạng phấn khởi, lạc quan: “Câu hát căng buồm với gió khơi”. (3) “Câu hát” hay chính tâm hồn người ngư dân đang hòa cùng gió trời lồng lộng đưa đoàn thuyền vượt bể trở về. (4) “Đoàn thuyền” là hình ảnh nghệ thuật được dùng để chỉ những ngư dân. (5) Họ như đang chạy đua cùng mặt trời để mau chóng mang thành quả lao động: những con cá tươi ngon vừa được đánh bắt vào bờ phục vụ cho phiên chợ sáng. (6) Thành công của buổi lao động thổi vào hồn của những ngư dân cảm xúc mạnh mẽ khiến cái nhìn của họ đối với thiên nhiên trở nên lãng mạn một cách kì lạ. (7) Giờ đây, mặt trời xuất hiện ở phương đông giống như một người khổng lồ từ từ nhô lên khỏi biển cả bao la: “Mặt trời đội biển nhô màu mới” tạo cảnh sắc sinh động. (8) Nó khác hẳn với hình ảnh mặt trời của khổ thơ đầu tiên: mặt trời trong buổi hoàng hôn. (9) Còn đóng ý thơ lại là ánh nắng buổi bình minh chiếu rạng trên mặt biển mênh mông nhấp nhô sóng lượn. (10) Mặt biển trải rộng bao la chan hòa với màu sắc lóng lánh, mới mẻ: “mặt trời đội biển như màu mới”. (11) Những ngư dân thấy ánh nắng trên mặt sóng biển lấp lánh như “mắt cá huy hoàng muôn dặm khơi”. (12) Kỳ diệu và lãng mạn làm sao tâm hồn của những ngư dân trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”!

Phần II:
1.      Truyện "Những ngôi sao xa xôi" ở trong số những tác phẩm đầu tay của Lê Minh Khuê, viết năm 1971, lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc đang diễn ra khốc liệt.
2.  Trong đoạn văn, điều khiến nhân vật “tôi” đến gần quả bom lại cảm thấy không sợ nữa, chính là vì “thấy có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình”. Đây là một chi tiết rất đặc sắc gợi cho người đọc nhiều thắc mắc và suy nghĩ. Chi tiết này, giúp người đọc có thể cảm nhận từ nhiều lý do khác nhau khiến nhân vật “tôi” (cô Phương Định) không cảm thấy sợ: nhân vật ấy có tinh thần trách nhiệm với công việc; dũng cảm, gan dạ; bình tĩnh, tự tin và rất tự trọng; luôn cảm thấy bản thân được động viên, khích lệ bởi các đồng đội (đặc biệt là các anh chiến sĩ, những người mà cô cảm thấy là những con người đẹp nhất). 
3. Thí sinh phải đáp ứng những yêu cầu của đề bài: viết một đoạn văn khoảng nửa trang giấy thi (khoảng 20 dòng) trình bày suy nghĩ về thái độ của mỗi người trong mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể.  Sau đây là một số gợi ý mà đoạn văn cần có:
-          Giải thích khái niệm cá nhân và tập thể; trong đó, đối với cá nhân, tập thể có thể là gia đình, lớp, trường; rộng hơn là cơ quan, xí nghiệp, là quốc gia, nhân loại.
-          Giữa cá nhân và tập thể có một mối quan hệ gắn bó rất chặt chẽ với nhau. Cá nhân và tập thể có ảnh hưởng qua lại với nhau, mặc dù mỗi yếu tố có sự độc lập tương đối.
-          Thái độ của cá nhân mỗi người đối với tập thể:
o  Tránh thái độ cá nhân vị kỉ: tách mình, thoát ly ra khỏi tập thể; chỉ biết lo cho cá nhân mình; vô cảm đối với tập thể.
o  Tránh thái độ xem tập thể là tối cao, độc nhất; từ đó dẫn đến chỗ coi thường quyền sống chính đáng của cá nhân. Đôi khi nét đẹp của từng cá nhân góp nên sự lớn mạnh và nét cao đẹp của tập thể.
o  Thấy mối quan hệ gắn bó giữa cá nhân và tập thể; tỏ thái độ và hành động thể hiện sự gắn bó giữa cá nhân và tập thể trong mọi hoàn cảnh.
§ Bình thường: tôn trọng tập thể; gắn bó, hài hòa giữa cá nhân và tập thể trên cơ sở phù hợp với đạo lý, với pháp luật.
§ Đặc biệt: đặt quyền lợi của cá nhân dưới lợi ích của tập thể, phục tùng lợi ích của tập thể; hành động vì sự sinh tồn của tập thể.
-          Sự kết hợp hài hòa một cách khéo léo giữa cá nhân và tập thể là một vấn đề mà mãi mãi chúng ta không thể giải quyết được. Do đó, chúng ta chỉ có thể chấp nhận sự dung hòa một cách tương đối giữa cá nhân – tập thể.


Nguyễn Hữu Dương
(Trung tâm luyện thi Vĩnh Viễn – TP.HCM)


Đề thi học kì 2 môn Văn lớp 9 năm 2014 Quận 10 - TPHCM

Câu 1: (1,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau rồi trả lời các câu hỏi
“Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang ầm ì xa dần. Thần kinh căng như chão, tim đập bất chấp cả nhịp điệu, chân chạy mà vẫn biết rằng khắp chung quanh có nhiều quả bom chưa nổ. Có thể nổ bây giờ, có thể chốc nữa. Nhưng nhất định sẽ nổ…”
(Lê Minh Khuê – Những ngôi sao xa xôi)
a, Cảnh được miêu tả trong đoạn văn trên là ở đâu? Trong thời điểm nào?
b, Qua đoạn trích, em hiểu được tính chất gì của công việc mà tổ trinh sát mặt đường thực hiện hàng ngày?
Câu 2: (1,0 điểm)
Xác định câu có hàm ý trong đoạn văn sau. Cho biết hàm ý của câu ấy.
“… Đây, tôi giới thiệu với anh một họa sĩ lão thành nhé. Và cô đây là kĩ sư nông nghiệp. Anh đưa khách về nhà đi. Tuổi già cần nước chè: ở Lào Cai đi sớm quá. Anh hãy đưa ra cái món chè pha nước mưa thơm như nước hoa Yên Sơn của nhà anh.”
(Nguyễn Thành Long – Lẵng lẹ Sa Pa)
Câu 3: (3,0 điểm)
Gian lận trong thi cử là một hiện tượng không thể chấp nhận được.
Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của em về hiệ tượng này.
Câu 4: (5,0 điểm)
Nói với con
“Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.”
Y Phương
Viết bài văn nêu cảm nhận của em về đoạn thơ trên.

TS 10 tại HCM năm 2012: Đề và gợi ý môn Văn


KÌ THI TUYỂN SINH LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Khóa ngày 21 tháng 06 năm 2012 tại TPHCM
Môn thi : VĂN
Thời gian: 120 phút (không tính thời gian giao đề)
ĐỀ CHÍNH THỨC

Câu 1: Truyện Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê được trần thuật từ nhân vật nào ? Nêu tác dụng của việc chọn ngôi kể đó (1 điểm)
Câu 2: (1 điểm)
                                    Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói
                                    Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
                                    Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa
                                    Óng tre ngà và mềm mại như tơ
                                                                        (Tiếng Việt – Lưu Quang Vũ)
            Tìm và gọi tên thành phần biệt lập trong đoạn thơ trên. Cho biết thành phần ấy được dùng để làm gì trong đoạn thơ?
Câu 3: (3 điểm)
            Trong loạt bài trên báo Tuổi trẻ chủ nhật bàn về thế hệ gấu bông có đề cập hai hiện tượng:
1.      Một cô bé mười lăm tuổi, được mẹ chở đi đánh cầu lông. Xe hai mẹ con bị va quẹt, đồ đạc trên xe văng tung tóe. Người mẹ vội vàng gom nhặt, vài người đi đường cũng dừng lại phụ giúp còn cô bé thờ ơ đứng nhìn. Đợi mẹ nhặt xong mọi thứ, cô bé leo lên xe và thản nhiên dặn: “Lát về mẹ nhớ mua cho con li chè!”.
2.      Một cậu học sinh khi được hỏi về ca sĩ nổi tiếng mà cậu hâm mộ, cậu đã trả lời rất rành mạch về cách ăn mặc, sở thích của ca sĩ đó. Nhưng khi được hỏi về nghề nghiệp, sở thích của cha mẹ cậu, cậu ta ấp úng, không trả lời được.
Là người con trong gia đình, em hãy trình bày suy nghĩ về hai hiện tượng trên qua một bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi).
Câu 4: (5 điểm)
            Hãy chọn và phân tích một hoặc hai khổ thơ trong các bài thơ của chương trình văn học Việt Nam hiện đại lớp 9 để nêu bật vẻ đẹp con người Việt Nam.
BÀI GIẢI GỢI Ý
Câu 1: Truyện Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê được trần thuật từ nhân vật Phương Định, cô thanh niên xung phong làm công tác trinh sát mặt đường trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ. Ngôi kể nói trên có tác dụng làm cho giọng kể có tính chất tự nhiên, thoải mái, trẻ trung, phù hợp với đặc điểm của nhân vật. Ngoài ra, chọn ngôi kể như thế sẽ làm tăng tính chất thuyết phục của tác phẩm (câu chuyện được kể từ người trong cuộc) và thể hiện sống động tâm hồn nhạy cảm, lãng mạn của những cô gái thanh niên xung phong trên đường Trường Sơn trong thời chống Mỹ, nhất là của nhân vật chính : Phương Định.
Câu 2:  Thành phần biệt lập trong đoạn thơ trên thể hiện ở từ “Ôi”. Đây là thành phần cảm thán. Trong đoạn thơ nó được sử dụng để biểu hiện cảm xúc (lòng yêu mến) của nhà thơ đối với tiếng Việt.
Câu 3:
Học sinh có thể làm nhiều cách khác nhau miễn là có đủ một số ý theo quy định. Sau đây là một cách làm cụ thể:
·        Mở bài: Đặt vấn đề: Sự vô tâm của thế hệ gấu bông đã làm giật mình các bậc cha mẹ. Hai hiện tượng mà báo Tuổi trẻ Chủ nhật đã nêu là khá phổ biến. Đó cũng là thể hiện của sự suy tàn về chữ hiếu và vi phạm nghiêm trọng đạo đức con người Á Đông. Hai hiện tượng trên như một lời cảnh tỉnh đối với bổn phận làm con của chúng ta.
·        Thân bài:
+ Biểu hiện: Giải thích nội dung của hai hiện tượng trên nói lên sự vô tâm của thế hệ trẻ đối với những người thân yêu nhất, có công nuôi dưỡng và bảo bọc chúng ta từ khi mới sinh ra – đó là cha mẹ, ông bà, thầy cô giáo, ...Hình ảnh một em bé thờ ơ khi mẹ đi nhặt đồ và hồn nhiên nói: “Lát về mẹ nhớ mua cho con li chè!” cũng như hình ảnh một cậu học sinh rất rành về sở thích của ca sĩ cậu yêu thích mà chẳng biết gì về sở thích, nghề nghiệp, tâm trạng và niềm đau của bố mẹ mình. Điều đó đã tạo nên sự phản cảm mạnh mẽ trong tâm hồn người đọc.
+ Nguyên nhân:
_ Giới trẻ thường chỉ quan tâm tới cuộc sống và sở thích của mình, đó là một trong những biểu hiện của thói ích kỉ.
_ Bậc cha mẹ thiếu sâu sát, thiếu quan tâm đúng mực đến hành vi, sở thích và nhân cách của con.
_ Nhà trường và xã hội thiếu phương pháp giáo dục đúng mực, thiếu những hoạt động để rèn luyện nhân cách của học sinh và gắn kết con cái với cha mẹ.
_ Nhà trường và gia đình còn thờ ơ với việc giáo dục cẩn trọng về đạo đức làm người và những đức tính như: hiếu thảo, lòng biết ơn, lòng nhân ái, tính vị tha, khả năng chia sẻ với những người thân yêu, ...        
                  + Hậu quả:
      _ Nếu không khắc phục được những hiện tượng này, xã hội càng ngày càng trở nên băng hoại về đạo đức và sự vô cảm càng ngày càng trở nên phổ biến.
      _ Những hiện tượng trên là nhát dao cứa vào lương tâm của những người Việt Nam có đạo đức, là nỗi đau dai dẳng cho thế hệ cha anh.
      _ Những hiện tượng trên là sự xói mòn về đạo đức, là sự chạy theo những nét đẹp phù phiếm và hư ảo, bỏ quên những nét đẹp chân thật và những tình cảm thiêng liêng.
+ Cách khắc phục:
_ Chủ quan: bản thân mỗi con người phải ý thức về trách nhiệm của mình đối với gia đình và xã hội, rèn luyện lòng nhân ái, lòng vị tha từ những việc nhỏ nhặt nhất.
_  Khách quan: gia đình, nhà trường và xã hội nên chú trọng hơn về việc giáo dục nhân cách cho học sinh, dạy học sinh biết quan tâm tới những người thân yêu, gần gũi với mình, dạy học sinh biết cảm nhận vẻ đẹp cùa lòng vị tha, sự chia sẻ, đồng cảm và lối sống có trách nhiệm.
_ Lên án mạnh mẽ lối sống thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, ích kỉ.
·        Kết bài: Hai hiện tượng trên đã đánh thức lương tâm của những người đã từng mắc vào những lỗi lầm tương tự. Đó là hồi chuông cảnh tỉnh đối với thế hệ trẻ nói riêng và đối với tất cả những người Việt Nam.
Câu 4: Đây là một đề làm văn có tính chất tự do. Nó cho phép người làm bài được tự do lựa chọn đối tượng để phân tích. Tuy nhiên, người làm bài phải tôn trọng những giới hạn được quy định trong đề. Thứ nhất, người làm bài chỉ được phép chọn một hoặc hai khổ thơ (không được hơn hai khổ thơ hoặc cả bài). Một, hai khổ thơ đó phải ở trong các bài thơ thuộc chương trình văn học Việt Nam hiện đại lớp 9 (Đồng chí, Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Bếp lửa, Ánh trăng, Đoàn thuyền đánh cá, Mùa xuân nho nhỏ, Viếng lăng Bác, Sang thu, Nói với con). Thứ hai, các khổ thơ được chọn phải có nội dung liên quan tới vẻ đẹp của con người Việt Nam. Thứ ba, khi phân tích, người làm bài phải có ý thức nêu bật được vẻ đẹp của con người Việt Nam trong một hoặc hai khổ thơ nói trên. Những vi phạm các yêu cầu nói trên sẽ làm cho bài viết rơi vào tình trạng xa đề, lan man hoặc lạc đề.
            Để có được kết quả tốt, bài viết còn phải có bố cục rõ ràng. Bài viết không mắc các lỗi về hành văn. Đặc biệt, phải thực hiện tốt thao tác phân tích một đoạn thơ, phải phân tích những yếu tố nghệ thuật của thơ để làm rõ giá trị của nó.
            Đây là một câu hỏi làm văn. Cho nên bài viết phải có đủ ba phần : mở bài, thân bài, kết bài. Trong phần mở bài, nên giới thiệu tác giả, bài thơ và đặc biệt là một hoặc hai khổ thơ được chọn để phân tích. Trong phần thân bài, cần giới thiệu vị trí của phần thơ được chọn trong bài thơ, giới thiệu đại ý của phần thơ được chọn. Sau đó, phân tích và làm rõ vẻ đẹp của con người Việt Nam trong phần thơ đó. Có thể, nhận xét và đánh giá ý nghĩa của phần thơ đối với cả bài, đối với đề tài. Cuối cùng, trong phần kết bài cần tổng kết khẳng định phần thơ thể hiện vẻ đẹp của con người Việt Nam.
            Có thể hình dung vẻ đẹp của con người Việt Nam qua các bài thơ như sau :
-         Đồng chí : vẻ đẹp của tình đồng chí ở những con người xuất thân từ đồng ruộng, gắn bó với nhau, lạc quan trong cuộc sống chiến đấu gian khổ.
-         Bài thơ về tiểu đội xe không kính : vẻ đẹp của người bộ đội lái xe trên đường mòn Trường Sơn thời đánh Mỹ : ung dung, lạc quan, khí phách, hiên ngang coi thường khó khăn gian khổ, yêu thương đất nước và miền Nam ruột thịt.
-         Đoàn thuyền đánh cá : vẻ đẹp của người lao động, của người ngư dân trong công cuộc lao động xây dựng đất nước (lạc quan, chủ động, tích cực, hào hùng, đầy ân tình).
-         Bếp lửa : vẻ đẹp của tình bà cháu; vẻ đẹp của người bà, người phụ nữ Việt Nam giàu lòng yêu thương (gia đình, đất nước), tần tảo hy sinh, chịu thương chịu khó; tấm lòng biết ơn trân trọng của cháu đối với bà.
-         Ánh trăng : vẻ đẹp của con người Việt Nam thể hiện trong sự gắn bó ân tình của con người với thiên nhiên, trong lời nhắc nhở phải biết thủy chung, uống nước nhớ nguồn.
-         Mùa xuân nho nhỏ : vẻ đẹp của con người Việt Nam: yêu thiên nhiên; hăng hái tích cực trong lao động xây dựng đất nước và chiến đấu bảo vệ tổ quốc; vẻ đẹp của con người nguyện cống hiến cả đời cho đất nước, nguyện làm một “mùa xuân nho nhỏ” cho đời.
-         Viếng lăng Bác : vẻ đẹp của Bác Hồ, “mặt trời trong lăng rất đỏ”; vẻ đẹp của tấm lòng trân trọng, kính yêu đối với Bác Hồ.
-         Sang thu : vẻ đẹp của một tâm hồn nhạy cảm trước sự biến chuyển của thiên nhiên trong lúc giao mùa.
-         Nói với con : vẻ đẹp của con người Việt Nam được thể hiện trong lời tâm tình, nhắn nhủ của người cha đối với con : phải biết yêu quý gắn bó với gia đình, với quê hương, với đất nước; phải biết tự hào về vẻ đẹp của truyền thống, của đất nước; phải sống xứng đáng với gia đình, với đất nước.
Đây là một số gợi ý chung của cả bài. Mỗi phần thơ được chọn sẽ có nội dung cụ thể. Người làm bài sẽ căn cứ vào phần thơ đó phân tích để làm rõ vẻ đẹp cụ thể được biểu hiện trong phần thơ.
           
Nguyễn Đức Hùng
(Trường THPT Vĩnh Viễn – TP.HCM)

Thi học kỳ 2 Lớp 9 TP.HCM 09-10

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------------------------

ĐỀ CHÍNH THỨC
(Đề thi có 1 trang)
ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II LỚP 9 THCS

NĂM HỌC 2009 - 2010

MÔN THI: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 90 phút

(không kể thời gian giao đề)


Câu 1 (1 điểm): Một ngày chúng tôi phá bom đến năm lần. Ngày nào ít: ba lần. Tôi có nghĩ tới cái chết. Nhưng một cái chết mờ nhạt, không cụ thể. Còn cái chính: liệu mìn có nổ, bom có nổ không ?

(Những ngôi sao xa xôi – Lê Minh Khuê)

Đoạn trích trên cho thấy nét tính cách nào của nhân vật “tôi” – Phương Định ?

Câu 2 (1 điểm): Tìm thành phần phụ chú trong đoạn trích sau và cho biết chúng bổ sung điều gì.

Bước vào thế kỉ mới, muốn “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” thì chúng ta sẽ phải lấp đầy hành trang bằng những điểm mạnh, vứt bỏ những điểm yếu. Muốn vậy thì khâu đầu tiên, có ý nghĩa quyết định là hãy làm cho lớp trẻ – những người chủ thật sự của đất nước trong thế kỉ tới – nhận ra điều đó, quen dần với những thói quen tốt đẹp ngay từ những việc nhỏ nhất.

(Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới –Vũ Khoan)

Câu 3 (3 điểm): Viết một bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của em về cách ứng xử tốt đẹp trong quan hệ bạn bè.

Câu 4 (5 điểm): Cảm nhận của em về hai khổ thơ sau:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân …



Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim !

(Viếng lăng Bác – Viễn Phương)



… … … .HẾT. … … …



Thí sinh không sử dụng tài liệu. Giám thị không giải thích gì thêm.



Họ và tên thí sinh:………………………………………… Số báo danh:………………...

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HƯỚNG DẪN CHẤM



I. HƯỚNG DẪN CHUNG

- Đề bài gồm 4 câu: câu 1 và câu 2 kiểm tra kiến thức Văn học và thực hành bài tập Tiếng việt; câu 3 là bài nghị luận xã hội; câu 4 là bài nghị luận văn học. Câu 1 và 2 chủ yếu yêu cầu tái hiện kiến thức nhưng cũng có yêu cầu về diễn đạt. Những học sinh diễn đạt trôi chảy, đúng chính tả, ngữ pháp mới được điểm tối đa. Câu 3 và câu 4 kiểm tra kiến thức xã hội, kiến thức văn học và kĩ năng diễn đạt, lập luận.

- Giám khảo cần nắm nội dung bài làm của học sinh để đánh giá, tránh đếm ý cho điểm một cách máy móc. Chú ý khuyến khích các bài viết có ý riêng, sáng tạo.

- Thí sinh có thể trình bày, triển khai ý theo các cách riêng, nếu đáp ứng các yêu cầu vẫn cho đủ điểm.



II. ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM

Đáp án
Điểm

Câu 1
Nét tính cách của nhân vật Phương Định qua đoạn trích.
1,0

- Tính cách nhận vật Phương Định qua đoạn trích : gan dạ, dũng cảm, có tinh thần trách nhiệm đối với công việc …
1,0

Lưu ý: chấp nhận những lời đánh giá hợp lí khác. Học sinh nêu 1 nét tính cách được 1 điểm.


Câu 2
Tìm thành phần phụ chú và cho biết ý bổ sung
1,0

- Thành phần phụ chú: những người chủ thật sự của đất nước trong thế kỉ tới.
0,5

- Giải thích, bổ sung nghĩa cho cụm từ “lớp trẻ”.
0,5

Câu 3
Suy nghĩ về cách ứng xử tốt đẹp trong quan hệ bạn bè.
3,0


a.Yêu cầu về kĩ năng

- Nắm phương pháp làm bài nghị luận xã hội.

- Bố cục và hệ thống ý sáng rõ.

- Biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác nghị luận (giải thích, chứng minh, bình luận… ).

- Văn trôi chảy, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục. Không mắc lỗi diễn đạt; không sai lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp; trình bày bài rõ ràng.



b. Yêu cầu về kiến thức



- Giới thiệu được vấn đề nghị luận
0,25

- Cách ứng xử tốt đẹp là thái độ giao tiếp, cách đối đãi, đối xử ân tình, yêu thương, trân trọng đối với bạn bè.
0,75

- Người đối xử tốt đẹp với bạn bè là người biết trân trọng bạn, yêu thương bạn, trong những va chạm thì luôn vị tha, nhân hậu, giúp bạn nhận ra khuyết điểm và sửa chữa …

Lưu ý: học sinh cần có dẫn chứng để làm nổi bật ý. Bàn luận 2 biểu hiện là đạt yêu cầu.
1,0

- Lên án, phê phán những hiện tượng tiêu cực: không biết trân trọng, yêu thương bạn, đối xử thô bạo với bạn …
0,5

- Rèn lối sống, cách ứng xử tốt đẹp với bạn bè.
0,5

Câu 4
Cảm nhận về khổ 2 và 3 bài thơ “Viếng lăng Bác”
5,0


a. Yêu cầu về kĩ năng

- Nắm phương pháp làm bài nghị luận văn học.

- Bố cục và hệ thống ý sáng rõ.

- Biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác nghị luận (chứng minh, bình luận, so sánh mở rộng vấn đề… ). Đặc biệt, thí sinh phải nắm vững thao tác phân tích một đoạn trích thơ.

- Văn trôi chảy, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục.

- Không mắc lỗi diễn đạt; không sai lỗi chính tả, dùng từ; trình bày bài rõ ràng.



b. Yêu cầu về kiến thức


- Giới thiệu được vấn đề nghị luận.
0,5

- Giới thiệu vài nét về tác giả Viễn Phương và tác phẩm Viếng lăng Bác.

Lưu ý: Hs có thể nêu ở các phần khác nhau của bài làm.
0,5

- Hình ảnh Bác Hồ: vị lãnh tụ vĩ đại (soi sáng cách mạng dân tộc, cống hiến cả cuộc đời cho đất nước, tâm hồn cao đẹp, sáng trong … )
1,0

- Tình cảm của nhân dân và của tác giả đối với Bác: kính yêu, tự hào, ngợi ca, thương nhớ …
1,0

- Nghệ thuật: kết hợp hài hòa giữa hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ, hình ảnh ẩn dụ súc tích, gợi cảm; ngôn ngữ bình dị mà cô đúc …
1,0

Lưu ý: Học sinh có thể triển khai luận điểm theo nhiều cách khác nhau: cảm nhận về nội dung sau đó cảm nhận về nghệ thuật, phân tích nghệ thuật để nêu bật nội dung ... Giám khảo đánh giá mức điểm dựa trên kĩ năng làm bài và nội dung toàn bài của học sinh.


- Khái quát, đánh giá được những vấn đề đã bàn luận.
1,0