TS10: Đề số 2

ĐỀ SỐ 02
Câu 1: Chép lại nguyên văn khổ cuối bài thơ: “ Tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật. (1điểm)
Câu 2: Tìm từ Hán Việt trong hai câu thơ: (1điểm)
“ Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh”  (Nguyễn Du- Truyện Kiều)
          Giải nghĩa từ: “ Thanh minh, đạp thanh”
Câu 3: Viết một đoạn văn nghị luận ( không quá một trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của em về câu tục ngữ: “ Có chí thì nên” ( 3 điểm)
Câu 4: Nghệ thuật miêu tả vẻ đẹp Thúy Kiều của Nguyễn Du qua đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” ( 5 điểm)
Trả lời:
Câu 1: Chép lại nguyên văn khổ cuối bài thơ: “ Tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật.( 1điểm)
“ …Không có kính, rồi xe không có đèn
Không có mui, thùng xe có xước
      Xe vẫn chạy vì miềm Nam phía  trước
               Chỉ cần trong xe có một trái tim”
                           (Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật)
Câu 2: Tìm từ Hán Việt trong hai câu thơ: (1điểm)
“ Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh”  ( Nguyễn Du- Truyện Kiều)
          Giải nghĩa từ: “ Thanh minh, đạp thanh”
a)     Từ Hán việt trong câu thơ: “ Thanh minh, tiết, lễ, tảo mộ, đạp thanh
b)    Giải nghĩa hai từ:
-         Thanh minh:một trong hai mươi  bốn tiết của năm, tiết này thường vào khoảng tháng hai hoặc tháng ba âm lịch, người ta đi tảo mộ , tức là đi viếng mộ và sửa sang lại phần mộ của người thân.
-         Đạp thanh: gẫm lên cỏ xanh
Câu 3: Viết một đoạn văn nghị luận ( không quá một trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của em về câu tục ngữ: “ Có chí thì nên” (3 điểm)
          Sống phải có bản lĩnh. Nhờ có bản lĩnh mà ta có thể vượt qua mọi thử thách trên đường đời và đi tới thành công. Nói về bản lĩnh sống, dân gian có câu tục ngữ thật là chí lí:     “ Có chí thì nên”
          “Có chí” thì  mới có thể chịu đựng được, đứng vững trước mọi thử thách khó khăn, không bị gục ngã trước thất bại tạm thời. Đi học, đi làm , sản xuất, kinh doanh……vv đều cần đến chí. Chí càng cao sức càng bền mới đi đến  thành công. Đường đời  khó khăn nên ta phải có chí. Đường  xa, núi cao, dốc thẳm, sông sâu, thuyết dày …v.v. phải có chí vượt qua. Điu thi  là phải có chí quyết tâm thì mới thành công. “ Dốc núi cao, nhưng lòng quyết tâm còn cao hơn núi” “ Nước chảy đá mòn” “ Kiến tha lâu cũng đầy tổ” “ Có công mài sắc có ngày nên kim” .Tất cả đều nói lên cái chí.
          Tuổi  trẻ của chúng ta trên đường học tập, tiến quân vào mặt trận khoa học ki thuật cũng phải có chí mới có thể thực hiện được ước mơ hoài bão của mình, mới có thể đem tài đức góp phần xứng đáng vào công  cuộc công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước.Học tập theo câu tục ngữ : “ Có chí thì nên” ta càng thấm thía lời dạy của Bác Hố:
“ Không có việc gì khó
     Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
     Quyết chí  ắt làm nên”
Câu 4: Nghệ thuật miêu tả vẻ đẹp Thúy Kiều của Nguyễn Du qua đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” (5 điểm)
Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc
Sắc tài sao mà lắm chuân chuyên
a) Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vị trí đoạn trích, sơ lược nội dung đoạn trích.
- Nghệ thuật miêu tả nhân vật  đặc sắc của Nguyễn Du vừa mang nét truyền thống vừa mang những nét sáng tạo riêng. Thể hiện tình yêu thương con người đặc biệt là đối với phụ nữ.
b) Thân bài:
·        Hình ảnh của chị em Thúy Kiều qua ngôn ngữ của Nguyễn Du
- Bốn câu đầu giới thiệu vẽ đẹp chung của chị em Thúy Kiều về vai vế , sắc đẹp và tính cách của hai người .Vẻ đẹp chung của chị em Thúy Kiều , qua ngòi bút sắc bén của Nguyễn Du
Đầu lòng hai ả Tố Nga
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân
Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười .
- Bốn câu tiếp theo tiếp theo: Miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân. So sánh với những hình ảnh để làm nổi bật sắc đẹp của Thúy Vân. Lồng vào việc miêu tả hình dáng , nhà thơ đề cập đến tính cách “ Trang trọng”
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặc, nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt, đoan trang
Mâ thua nước tóc, tuyết nhường màu da
- Miêu tả Thúy Kiều
+ Dựa vào Thúy Vân làm chuẩn, Thúy Vân “ sắc sảo mặn mà” thì Thúy Kiều “ càng sắc sảo mặn mà” hơn với
Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước nghiêng thành
+ Phép so sánh được vận dụng để làm tăng thêm sắc đẹp của Kiều . Mượn thơ của Lý Diên Niên “ Nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc” để  khẳng định thêm sắc đẹp ấy.
- Tính cách thì “ Sắc đành  đòi một, tài đành học hai:
+ Tạo hóa đã phú cho nàng trí thông minh .đa tài, thơ, đàn, ca, vẽ, những thứ tài  mà trong chế độ phong kiến ít có  phụ nữ nào có nếu không bảo là điều cấm kị.
+ Nhà thơ  còn báo trước cuộc đời bạc mệnh khi đề cập đến sở thích nhạc buồn của Nàng. Kiều trở thành nhân vật  của thuyết: “ tài mệnh tương đối”
+ Tả qua thái độ ghen ghét , đố kị của thiên nhiên “ hoa ghen” “ liễu hờn”.
_ Bốn câu thơ cuối : Tính cách đạo đức , hoàn cảnh sống của hai nàng, nhàn nhã, trang trọng.
Phong lưu rất mực hồng quần
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
c) Kết bài:
- Nguyễn Du là người thấy của văn miêu tả con người
- Kính phục, học tập ở nhà thơ để giữ gìn sự trong sáng và cái hay của Tiếng việt.



HSG9: Vĩnh Tường

PHÒNG GD&ĐT

ĐỀ CHÍNH THỨC

 
VĨNH TƯỜNG
ĐỀ THI CHỌN HSG LỚP 9 CẤP HUYỆN
NĂM HỌC 2013 - 2014
Môn: Ngữ văn
Thời gian làm bài: 150 phút

Câu 1: (2,0 điểm)
 Viết về cảnh đất trời mùa xuân ở đoạn trích Cảnh ngày xuân (Truyện Kiều – Nguyễn Du), có ý kiến cho rằng: Từ cặp lục bát thứ nhất sang cặp lục bát thứ hai có sự biến đổi của mạch thơ; riêng cặp lục bát thứ hai đã thể hiện tài tình nghệ thuật “thi trung hữu họa”.
Em hãy viết đoạn văn trình bày ý kiến của mình về nhận xét trên?
Câu 2: (2,0 điểm)
Khi nói về quê hương, Đỗ Trung Quân cho rằng:
                              Quê hương mỗi người chỉ một
                               Như là chỉ một mẹ thôi.
                                                        (Quê hương)
Em hiểu thế nào về quan niệm của nhà thơ? Từ đó hãy bày tỏ suy nghĩ của em về quê hương?
Câu 3: (6,0 điểm)

Nhận xét về truyện “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long, có ý kiến cho rằng:

          “Tác phẩm như một bài thơ về vẻ đẹp trong cách sống và suy nghĩ của con người lao động bình thường mà cao cả, những mẫu người của một giai đoạn lịch sử có nhiều gian khổ và hi sinh nhưng cũng thật trong sáng, đẹp đẽ. Từ hình ảnh những con người ấy gợi lên cho ta những suy nghĩ về ý nghĩa của cuộc sống, của lao động tự giác, về con người và về nghệ thuật”.

Qua truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”, em hãy làm sáng tỏ nhận xét trên.

 


Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm
Họ và tên thí sinh: ..........................................................SBD: ......................





PHÒNG GD&ĐT VĨNH TƯỜNG
    HD CHẤM  HSG LỚP 9 NĂM HỌC 2013-2014

                                 MÔN: NGỮ VĂN


Câu 1:
* Bài viết trình bày dưới hình thức một đoạn văn.
* Nội dung cần đạt được như sau:
Đồng ý với nhận xét trên
+ Sự biến đổi của mạch thơ
Hai câu đầu gợi dòng chảy thời gian bất tận, nhịp thơ êm xuôi:“Ngày xuân con én…ngoài sáu mươi”. Hình ảnh “chim én đưa thoi” vừa gợi không gian, vừa ngụ ý mùa xuân qua nhanh.                                                                           
Hai câu tiếp theo, mạch thơ dừng lại, mở ra một không gian mênh mông, không còn ranh giới giữa trời và đất: “ Cỏ non xanh tận chân trời…một vài bông hoa” .                                                                                                            
+ Nghệ thuật “Thi trung hữu họa” ở cặp thơ thứ hai:
Trời đất một màu xanh non tươi tốt của cỏ mùa xuân. Trên nền màu xanh non ấy điểm xuyết sắc trắng của hoa lê. Hai màu: xanh, trắng là những gam màu sáng tươi dịu mát, tôn nhau lên, màu trắng hoa lê làm cỏ như xanh hơn và sắc trắng của hoa càng trở nên thanh khiết trên nền cỏ xanh mịn.                      
Cách dùng từ “trắng điểm” (chứ không phải là điểm trắng) giúp ta nhận ra tín hiệu của mùa xuân ở vẻ đẹp ẩn chìm mà sống động của tạo vật vốn vô tri vô giác.                                                                                                                  
          Có thể liên hệ đến câu thơ cổ của Trung Quốc: “ Phương thảo liên thiên bích/ Lê chi sổ điểm hoa”.
+ Khả năng rung động tinh tế của thi nhân trước cái đẹp của mùa xuân .
  ( Không cho điểm tối đa những bài viết không trình bày đúng hình thức của một đoạn văn).
Câu 2:
* Yêu cầu chung:
    HS hiểu đề, viết sát chủ đề đã nêu.
    Biết cách làm một bài văn nghị luận có bố cục hợp lí, lập luận chặt chẽ.
    Trình bày ý mạch lạc, rõ ràng. Văn viết trong sáng, có cảm xúc.
* Yêu cầu cụ thể:
+ Quan niệm về quê hương của nhà thơ Đỗ Trung Quân :
- Câu thơ nằm trong thi phẩm viết về quê hương. Trong thi phẩm ấy, nhà thơ gợi ra  những cách hiểu về quê hương.
- Cách so sánh độc đáo, thú vị : quê hương và mẹ.Ý ngĩa của cách so sánh ấy là để khẳng định quê hương chính là nguồn cội, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi gắn bó, nuôi dưỡng sự sống, đặc biệt là sự sống tinh thần, tâm hốn.
  Qua lối so sánh khẳng định để nêu bật tình cảm với quê hương. Quê hương là điều quý giá vô ngần mà mỗi con người không thể thiếu. Hình bóng quê hương đi theo con người suốt cả cuộc đời, trở thành điểm tựa về tinh thần của con người trong cuộc sống. Nếu thiếu đi điểm tựa này, cuộc sống của con người trở nên chông chênh, lệch lạc. Đồng thời, qua cách so sánh, tác giả cũng khơi dậy, nuôi dưỡng tình cảm với quê hương : tình cảm với mẹ là tình cảm tự nhiên như một bản năng, tình cảm với quê hương là tình cảm tự nhiên, thuần khiết trong tâm hồn mỗi con người.
- Gợi mở một cách sống, cách làm người : Phải biết coi trọng gốc rễ, hướng về cội nguồn, biết yêu quê hương. Thiếu đi tình cảm này là một khiếm khuyết trong đời sống tâm hồn, tình cảm khiến con người không được làm người một cách trọn vẹn.
+ Suy nghĩ của bản thân:
- Quê hương là bến đỗ bình yên cho mỗi con người...
- Mỗi người không được quên đi nguồn cội, gốc gác, quê hương. Dù ai đi đâu, ở đâu cũng sẽ luôn tự nhắc nhở hãy nhớ về cội nguồn yêu thương.
  Nuôi dưỡng tình cảm với quê hương có nghĩa là nuôi dưỡng tâm hồn, để con người được làm người theo nghĩa đầy đủ nhất.
- Đặt tình cảm với quê hương trong quan hệ với tình yêu đất nước, cần hướng về quê hương song không có nghĩa là chỉ hướng về mảnh đất nơi mình sinh ra mà phải biết tôn trọng và yêu quý tất cả những gì thuộc về Tổ quốc.
- Có thái độ phê phán trước những hành vi, suy nghĩ chưa tích cực về quê hương : chê quê hương nghèo khó, lạc hậu ; làm thay đổi một cách tiêu cực dáng vẻ quê hương mình...
- Trách nhiệm xây dựng quê hương.
* Mở bài, kết bài viết tốt mỗi phần được           điểm.
Câu 3:  
* Về kỹ năng: Hiểu đúng yêu cầu của đề bài. Biết cách làm bài văn nghị luận bố cục rõ ràng, kết cấu hợp lí. Diễn đạt tốt, không mắc các lỗi chính tả , dùng từ , ngữ pháp.
* Về nội dung :
    Học sinh có thể sắp xếp trình bày theo nhiều cách khác nhau, có thể có những ý kiến riêng miễn sao phải phù hợp với yêu cầu của đề bài. Dù triển khai theo trình tự nào cũng cần đạt được những ý chính sau đây.
 A/ Tác phẩm như một bài thơ về vẻ đẹp trong cách sống và suy nghĩ của con người lao động bình thường mà cao cả, những mẫu người của một giai đoạn lịch sử có nhiều gian khổ và  hi sinh nhưng cũng thật trong sáng, đẹp đẽ.
     Qua các nhân vật với những công việc và lứa tuổi khác nhau, nhà văn muốn khái quát những phẩm chất cao đẹp của con người mới trong thời kì xây dựng Chủ nghĩa xã hội và chống Mĩ cứu nước. Họ có những suy nghĩ đúng đắn, lặng lẽ cống hiến cho tổ quốc, tâm hồn trong sáng và giàu lòng nhân ái.
1/ Vẻ đẹp cao cả chung của các nhân vật.
          +  Ý thức trách nhiệm trước công việc : anh thanh niên, đồng chí cán bộ khoa học.
+  Sống có lý tưởng, sẵn sàng cống hiến : anh thanh niên, cô kỹ sư trẻ (cô kĩ sư trẻ mới ra trường lần đầu tiên xa Hà Nội, dũng cảm lên nhận công tác tại Lai Châu. Cô là lớp thanh niên thề ra trường đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì…)
+ Nhận thức sâu sắc ý nghĩa công việc: anh thanh niên, ông kỹ sư vườn rau, người cán bộ nghiên cứu khoa học…
+ Yêu thích, say mê công việc, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, dám chấp nhận cuộc sống cô độc để làm việc, làm việc một cách kiên trì, tự giác bất chấp hoản cảnh : anh thanh niên, ông kỹ sư vườn rau, người cán bộ nghiên cứu khoa học.
2/ Vẻ đẹp trong cuộc sống bình thường.
     Tiêu biểu là nhân vật anh thanh niên.
+ Đó là con người sống, làm việc một mình trên đỉnh núi cao mà không cô đơn. Anh tổ chức sắp xếp cuộc sống của mình trên trạm khí tượng thật ngăn nắp, chủ động, giản dị (căn nhà nhỏ, giường cá nhân…). Anh sống lạc quan yêu đời- trồng hoa, nuôi gà, đọc sách.
+ Đó là một người khiêm tốn: lặng lẽ hoàn thành công việc, không tự nhận thành tích về mình, luôn nhận thức được công việc của mình làm là những đóng góp nhỏ bé cho đất nước; ham mê học hỏi, phấn đấu bởi xung quanh anh có biết bao con người, bao tấm gương, bao điều đáng học ( những ông kĩ sư vườn rau, anh cán bộ nghiên cứu sét...)
+ Một con người sống cởi mở, tốt bụng, luôn quan tâm đến mọi người một cách chân thành, chu đáo: việc đi tìm củ tam thất cho vợ bác lái xe, đón ông hoạ sĩ già và cô kỹ sư trẻ thân tình, nồng hậu; hồn nhiên, yêu cuộc sống: thèm người, thèm chuyện trò ...
Khẳng định, khái quát: Tác phẩm thật sự là một bài thơ về vẻ đẹp trong cách sống và suy nghĩ của người lao động bình thường mà cao cả. Họ chính là những thế hệ tiêu biểu cho lớp người mới, cho thanh niên Việt Nam thời chống Mĩ cứu nước. Tuy không trực tiếp chiến đấu, song họ đã góp phần không nhỏ để xây dựng cuộc sống mới và góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến của dân tộc. Họ nối tiếp nhau xứng đáng là chủ nhân của đất nước này.
( Học sinh có thể trình bày trên cơ sở phân tích từng nhân vật để làm nổi bật ý tưởng chung, tuy nhiên , cần tập trung vào nhân vật trung tâm là anh thanh niên)
B/ Tác phẩm gợi lên những suy nghĩ về ý nghĩa của cuộc sống, của lao động tự giác về con người và về nghệ thuật”.

- Cuộc sống của mỗi người chỉ thực sự ý nghĩa khi mọi việc làm , hành động của họ đều xuất phát từ tình yêu cuộc sống, yêu con người, yêu và tự hào về mảnh đất mình đang sống.
- Con người biết sống có lý tưởng, say mê với công việc, hiểu được ý nghĩa của công việc mình làm . Con người cần tự nhìn vào chính bản thân để sống tốt  đẹp hơn.
- Thông qua suy nghĩ của người hoạ sĩ : vẻ đẹp của con người và của cuộc sống chính là nguồn cảm hứng vô tận để người nghệ sĩ sáng tạo  những tác phẩm nghệ thuật có giá trị .
* Thang điểm :
- Mở bài, kết bài đạt yêu cầu mỗi phần được         điểm.
- Thân bài…….. điểm :  Ý thứ nhất (A) -          .
                                    Ý thứ hai (B)  -           điểm.
   Lưu ý chung:
       Trên đây chỉ là những gợi ý cơ bản về cách chấm. Giám khảo linh hoạt khi chấm bài của học sinh. Khuyến khích những bài viết có chất văn, có tính sáng tạo.
                            
                            


Đề ôn TS10 -Đề số 1

ĐỀ SỐ 1
Câu 1  (1 điểm) :
Chép lại nguyên văn khổ thơ cuối bài thơ: “Đồng chí” (Chính Hửu)
 Câu 2 (1 điểm)  :
Đọc hai câu thơ:
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non”
                                                              ( Nguyễn Du-  Truyện Kiều)
          Từ xuân trong câu thứ nhất được dùng  theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? và nghĩa chuyển đó được hình thành theo phương thức chuyển nghĩa nào?
Câu 3 (3 điểm):
Viết một đoạn văn nghị luận (không  quá một trang giấy thi) nêu suy nghĩ của em về đạo lí: “ Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.
Câu 4 – 1 điểm
: Phân tích nhân vật Vũ Nương “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ. Từ đó em có nhận được điều gì về thân phận  và vẻ đẹp của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến.
(5 điểm)
TRẢ LỜI:
Câu 1: Chép lại nguyên văn khổ thơ cuối bài thơ: “ Đồng chí” (Chính Hửu) – 1 điểm
“…. Đêm nay rừng hoang sương muối
       Đứng cạnh bên nhau cời giặc tới
      Đầu súng trăng treo”  (Đồng Chí – Chính Hữu)
Câu 2: Đọc hai câu thơ :
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non”  (Nguyễn Du-  Truyện Kiều)
          Từ xuân trong câu thứ nhất được dùng  theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? và nghĩa chuyển đó được hình thành theo phương thức chuyển nghĩa nào?(1 điểm)
-         Từ “ Xuân” trong câu thứ nhất được dùng theo nghĩa chuyển.
-         Theo phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ.
-         Nghĩa của từ “ xuân” -> Thúy Vân còn trẻ hãy vì tình chị em mà em thay chị  thực hiện lời thề với Kim Trọng.
Câu 3: Viết một đoạn văn nghị luận ( không  quá một trang giấy thi) nêu suy nghĩ của em về đạo lí: “ Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.(3 điểm)
          Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, có rất nhiều câu ca dao, tục ngữ nói về triết lí sống của con người. Nhưng có lẽ câu để lại trong em ấn tượng sâu sắc nhất là câu: Uống nước nhớ nguồn”
          Câu tục ngữ trên quả thật là một danh  ngôn, một lời dạy bảo quý giá. Giá trị của lời khuyên thật to lớn vì nội dung mang màu sắc triết lí.đạo đức bàn về lòng biết ơn, được diễn tả bằng nghệ thuật so sánh ngầm độc đáo, lời văn đơn sơ, giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ. Chính vì thế mà câu nói này được được phổ biến mọi nơi, mọi chốn và được truyền tụng từ ngàn đời xưa đến nay.
          Càng hiểu ý nghĩa sâu sắc của lời dạy bảo mà ông cha ta muốn truyền lại cho đời sau, chúng ta, thế hệ tương lai của đất nước phải cố gắng học tập, lao động, nhất là rèn luyện những đức tính cao quý trong đó cần phải rèn luyện lòng nhớ ơn cha mẹ, thầy cô, ông bà tổ tiên ….để trở thành con ngoan trò giỏi.
Câu 4: Phân tích nhân vật Vũ Nương “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ. Từ đó em có nhận được điều gì về thân phận  và vẻ đẹp của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến.
a) Mở bài:
    ‘Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương
   Miếu ai như miếu vợ chàng Trương
Bóng đèn dù nhẫn đừng nghe trẻ
Cung nước chi cho lụy đến nàng”    (Lê Thánh Tông )
-         Nguyễn Dữ là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm ,ông sống ở thế kỉ 16, làm quan một năm, sau đó chán cảnh triều đình thối nát xin cáo quan về ở ẩn.
-         “Truyền kì mạc lục” là tác phẩm văn xuôi đầu tiên của Việt Nam được viết bằng chữ Hán, trong đó truyện đã đề cập đến thân phận người phụ nữ sống trong XHPK mà cụ thể là nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “ Chuyện người con gái Nam xương”
b) Thân bài:
*    Vũ Nương: Đẹp người, đẹp nết:
-         Tên là Vũ Thị Thiết, quê ở Nam Xương, gia đình “ kẻ khó” tính tình thùy mị nết na,lại có thêm tư dung tốt đẹp
-         Lấy chồng con nhà hào phú không có học lại có tính đa nghi. Sau  khi chồng bị đánh bắt đi lính, nàng phải một mình phụng dưỡng mẹ chồng, nuôi dạ con thơ, hoàn cảnh đó càng làm sáng lên những nét đẹp của nàng.
+ Là nàng dâu hiếu thảo : khi mẹ chồng bị ốm, nàng “hết sức thuốc thang” “ ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn” “ khi bà mất, nàng “ hết lời thương sót”, lo ma chay lễ tế, “như đối với cha mẹ đẻ mình”
+ Là người vợ đảm đang, giữ gìn khuôn phép, hết mực thủy chung không màng danh vọng: ngày chồng ra trận nàng chỉ mong “ Ngày trở về mang theo hai chữ bình yên, thế là đủ rồi” chứ không mong mang được ấn phong hầu mặc áo gấm trở về. “ Các biệt ba năm giữ gìn một tiết” “ chỉ có cái thú vui nghi gia nghi thất” mong ngày “ hạnh phúc xum vầy”
-         + Là người mẹ hết mực thương con muốn con vui nên thường trỏ bóng mình vào vách mà nói rằng đó là hình bóng của cha. “Chỉ vì nghe lời trẻ em
                                                     Cho nên mất vợ rõ buồn chàng Trương’
*                          Vũ Nương: Người phụ nữ dám phản kháng để bảo vệ nhân phẩm, giá trị của mình:
-         Chồng trở về, bị hàm oan , nàng đã kiên trì bảo vệ hạnh phúc gia đình, bảo vệ nhân phẩm giá trị của mình qua những lời thoại đầy ý nghĩa
-         Khi chồng không thể minh oan , nàng quyết định dùng cái chết để khẳng định lòng trinh bạch.
-         Đòi giải oan, kiên quyết không trở lại với cái xã hội đã vùi dập nàng: “ Đa tạ tình chàng, thiết chẳng trở về nhân gian được nữa”
*   Vũ Nương : Bi kịch hạnh phúc gia đình bị tan vỡ và quyền sống bị chà đạp.
-         Bi kịch này sinh ra khi con người không giải quyết đượ cma6u thuẫn giữa mơ ước khát vọng và hiện thực khắc nghiệt, mặc dù con người hết sức cố gắng để vượt qua, Vũ Nương đẹp người đẹp nết  đáng lẽ phải được hưởng hạnh phúc mà lại không được .Vũ Nương đã hết sức cố gắng vun đắp cho hạnh phúc gia đình, hi vọng vào ngày xum vầy, ngay cả khi nó sắp bị tan vỡ . Nhưng cuối cùng nàng đành phải chấp nhận số phận, hạnh phúc gia đình tan vỡ không bao giờ có được, bản thân đau đớn, phải chết một cách oan uổng.
                                                       “ Trăm năm bia đá vẫn mòn
                                                  Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”
*     Những tính cách trên được xây dựng qua nghệ thuật:
-         Tạo tình huống tuyện đầy kích tính
-         Những đoạn đối thoại  và những  lời  tự bạch của nhân vật.
-         Có yếu tố truyền kì và hiện thực vừa haong đường.
c) Kết bài:
- Nguyễn Dữ thật xứng đáng với vị trí tiên phong trong nền văn xuôi Việt Nam
- Càng văn minh, tiến bộ càng quý trọng những bà mẹ, những người chị “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”
Trăm nghìn gửi lụy tình quân
“Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Phận sao phận bạc như vôi

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”  (Nguyễn Du- Truyện Kiều)

TS10: Thanh Hoá 2009

KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT
THANH HÓA
NĂM HỌC 2009-2010
Môn thi : VĂN
Ngày thi: 1 tháng 7 năm 2009
Thời gian làm bài: 120 phút

Câu 1 (1,5 điểm)
a.Từ “Xuân trong câu thơ dưới đây được dùng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển?
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
b. Xác định từ láy trong câu thơ sau:
Buồn trông cửa biển chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
                                                            (Nguyễn Du , Truyện Kiều)
Câu 2 (2,5 điểm)
a. Tóm tắt đoạn trích truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng (SGK ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2005) không quá 15 dòng.
b. Nêu ngắn gọn chủ đề truyện ngắn Chiếc lược ngà.
Câu 3 (2,0 điểm)
Viết đoạn văn khoảng 10 đến 15 dòng trình bày suy nghĩ của em về mối quan hệ anh em ruột thịt trong gia đình.
Bài 4 (4,0 điểm)
Phân tích đoạn thơ dưới đây:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến.

Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.

                                        (Thanh Hải, Mùa xuân nho nhỏ,

                              SGK Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục, 2005)

TS10 2014: Vĩnh Phúc

SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC
———————
ĐỀ CHÍNH THỨC
KỲ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2013 – 2014
ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian giao đề.
————————————


Câu 1 (2,0 điểm).
Cho đoạn văn:
Mẹ tôi lấy vạt áo nâu thấm nước mắt cho tôi rồi xốc nách tôi lên xe. Đến bấy giờ tôi mới kịp nhận ra mẹ tôi không còm cõi xơ xác quá như cô tôi nhắc lại lời người họ nội của tôi. Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má. Hay tại sự sung sướng bỗng được trông nhìn và ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình mà mẹ tôi lại tươi đẹp như thuở còn sung túc?
(Ngữ văn 8, tập 1, NXBGDVN-2010)
a) Đoạn văn trên được trích từ văn bản nào? Ai là tác giả?
b) Các từ được in đậm thuộc trường từ vựng gì?
c) Từ sung túc có nghĩa là gì?
d) Câu văn Mẹ tôi lấy vạt áo nâu thấm nước mắt cho tôi rồi xốc nách tôi lên xe là câu đơn hay câu ghép?

Câu 2 (3,0 điểm).
          a) Chép chính xác bốn câu cuối bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận.
          b) Viết một đoạn văn ngắn (5 đến 8 câu) nêu cảm nhận về khổ thơ.

Câu 3 (5,0 điểm).
Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc.
———— HẾT————
Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm!

Họ và tên thí sinh…………………………………… Số báo danh……………







 SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC
———————
(Hướng dẫn chấm có 03 trang)

KỲ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2013 - 2014                      
HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN: NGỮ VĂN
——————

Câu 1 (2,0 điểm).
a.
 Đoạn văn được trích từ văn bản Trong lòng mẹ (Trích Những ngày thơ ấu) của tác giả Nguyên Hồng.
Lưu ý: Học sinh có thể trả lời: đoạn văn trích từ văn bản Trong lòng mẹ của tác giả Nguyên Hồng hoặc Những ngày thơ ấu của tác giả Nguyên Hồng vẫn được điểm tối đa.
0,5đ
b.
Các từ in đậm thuộc trường từ vựng: các bộ phận của con người.
0,5đ
c.
Từ sung túc có nghĩa là đầy đủ (về đời sống vật chất).
0,5đ
d.
Câu đơn.
0,5đ

Câu 2 (3,0 điểm).

a.Chép khổ thơ
                       Câu hát căng buồm với gió khơi,
                       Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
                       Mặt trời đội biển nhô màu mới,
                       Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
Lưu ý
 - Chép đúng mỗi câu: 0,25 điểm.
- Sai lỗi chính tả, dấu câu : 1 – 3 lỗi trừ 0,25 điểm; 4 – 6 lỗi trừ 0,5 điểm.
1,0đ
b. Viết đoạn văn
- Về nội dung: đây là đoạn kết bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận, miêu tả cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về trong buổi sớm mai hồng.
0,25đ
+ Sức người (câu hát, đoàn thuyền) căng, đua cùng với sức thiên nhiên (gió khơi, mặt trời) khỏe khoắn, hùng tráng, phơi phới niềm vui, sự sống.
0,5đ
+ Thiên nhiên tươi mới, kì vĩ, tráng lệ (Mặt trời đội biển nhô màu mới) càng làm ngời sáng thành quả của con người lao động mới (Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi).
0,5đ
=> Con người, thành quả lao động cùng thiên nhiên biển khơi tôn vinh nhau, cùng dệt nên bức tranh cuộc sống mới tươi đẹp.
0,25đ
- Về nghệ thuật: ngòi bút khoáng đạt, phóng đại đã vẽ nên bức tranh thơ hoành tráng, tươi sáng, lấp lánh màu sắc lãng mạn, bay bổng. Âm hưởng lời thơ sôi nổi, hào hùng, khơi dậy khí thế lao động mới.
 Lưu ý:
 -  Thí sinh có thể diễn đạt theo cách khác nhưng đúng tinh thần thì vẫn cho điểm tối đa.
 - Viết không đúng hình thức đoạn văn thì cho tối đa là 0,5 điểm.

0,5đ
Câu 3 (5,0 điểm).
* Yêu cầu về kỹ năng
Thí sinh hiểu đúng yêu cầu của đề bài; biết cách làm bài văn nghị luận văn học; bố cục ba phần rõ ràng; lập luận chặt chẽ, mạch lạc; dẫn chứng chính xác, tiêu biểu; không mắc các lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp; khuyến khích những bài viết sáng tạo, có chất văn.
* Yêu cầu về kiến thức
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở nắm chắc tác phẩm, không suy diễn tuỳ tiện. Bài viết phải làm nổi bật được diễn biến tâm trạng của nhân vật ông Hai khi nghe tin làng Chợ Dầu của mình theo giặc. Cụ thể cần đảm bảo các ý cơ bản sau:

Mở bài
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận.
0,5đ



Thân bài
  - Hoàn cảnh của ông Hai: rất yêu làng, tự hào, hay khoe về làng nhưng lại phải xa làng để đi tản cư.
0,5đ
    - Tình yêu làng của ông Hai bị đặt vào một tình huống gay cấn, đầy thử thách: tin làng Chợ Dầu theo giặc, phản bội lại cách mạng, kháng chiến.
     - Ông Hai đã phải trải qua tâm trạng đầy dằn vặt, đau đớn, phải đấu tranh tư tưởng rất quyết liệt để lựa chọn con đường đi đúng đắn cho mình. Diễn biến tâm trạng của nhân vật trải qua những trạng thái tình cảm, thái độ khác nhau:
  + Thoạt đầu nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc từ người đàn bà tản cư nói ra, ông bàng hoàng, sững sờ, không thể tin được (cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân, ông lặng đi, tưởng như đến không thở được). Khi cái tin ấy được khẳng định chắc chắn, ông buộc phải tin. Ông đánh trống lảng ra về vì sợ người ta nhận ra mình là người dân làng Chợ Dầu. Trên đường về, ông tủi hổ cứ cúi mặt mà đi.
  + Về đến nhà, ông đau đớn (nằm vật ra giường); tủi thân, thương con (nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư?...); giận lây và trách cứ những người trong làng phản bội, nhưng lòng yêu làng, tin những người cùng làng khiến ông lão bán tín bán nghi (Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình không được đúng lắm. Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được….có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ấy); ông đau đớn tột cùng (Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian!...Suốt cả cái nước Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống  Việt gian bán nước...).
1,25đ
   - Ông Hai tiếp tục bị đặt vào tình huống căng thẳng, quyết liệt hơn khi nghe mụ chủ nhà báo Nghe nói, bảo có lệnh đuổi hết những người làng Chợ Dầu khỏi vùng này không cho ở nữa.
   + Ông lão lo sợ vì tuyệt đường sinh sống (ông Hai ngồi lặng trên một góc giường. Bao nhiêu ý nghĩ đen tối, ghê rợn, nối tiếp bời bời trong đầu ông lão). Ông cảm nhận hết nỗi nhục nhã, thương dân làng Chợ Dầu và thương thân mình phải mang tiếng là dân làng Việt gian (đâu đâu có người Chợ Dầu người ta cũng đuổi như đuổi hủi...mình cũng chẳng còn mặt mũi nào đi đến đâu).
1,25đ
    + Bị đẩy vào đường cùng, tâm trạng vô cùng bế tắc. Ông chớm nghĩ hay là quay về làng nhưng lập tức ông lão phản đối ngay    làm như thế là phản bội cách mạng, phản bội Cụ Hồ. Từ chỗ yêu làng, ông thù làng: về làm gì cái làng ấy nữa. Chúng nó theo Tây cả rồi. Về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ... làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù. Như vậy, tình yêu làng của ông Hai gắn liền với tình yêu nước, tinh thần kháng chiến.
     + Trong những ngày buồn khổ ấy, ông chỉ biết tâm sự với đứa con để củng cố niềm tin vào cách mạng, vào kháng chiến (ông nói với con như để ngỏ lòng mình, như để mình lại minh oan cho mình nữa.).Điều đó thể hiện tình cảm, lòng trung thành của ông với cách mạng, với kháng chiến, với Cụ Hồ (Cái lòng của bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai).

* Nghệ thuật:
  - Tình huống truyện đặc sắc giúp nhân vật bộc lộ tâm trạng cụ thể, đa dạng.
- Tâm trạng nhân vật được miêu tả cụ thể, gợi cảm qua diễn biến nội tâm, ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ nên rất sinh động.
  - Ngôn ngữ kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật đặc sắc, bộc lộ rõ tâm trạng và thái độ của nhân vật.
0,5đ
* Khái quát: diễn biến tâm lý của nhân vật ông Hai đa dạng, phức tạp. Tất cả những trạng thái tâm lý đó làm nổi bật tình yêu làng, yêu nước sâu sắc của ông Hai.
0,5đ
Kết bài
Kết thúc vấn đề, nêu ý nghĩ bản thân.


0,5đ

Lưu ý:
- Cho điểm tối đa khi bài thi đảm bảo tốt cả 2 yêu cầu về kĩ năng và kiến thức.
- Điểm của bài thi là tổng điểm các câu cộng lại; cho điểm từ 0 đến 10.
- Điểm lẻ làm tròn tính đến 0,25 điểm.

—————Hết—————