Thi thử: TN THPT 2011 ở Nam Định

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH
ĐỀ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT
MÔN : NGỮ VĂN
Thời gian làm bài : 150 phút, không kể thời gian giao đề

I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5.0 điểm)

Câu 1 (2 điểm) :
Nêu giá trị lịch sử và giá trị nghệ thuật của Tuyên ngôn độc lập ( Hồ Chí Minh).
Câu 2 (3 điểm) :

Anh /Chị hãy viết một văn bản nghị luận ngắn (khoảng 01 trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến sau :
“ Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái”. ( Lê Duẩn)
II. PHẦN RIÊNG (5.0 điểm):
Thí sinh học chương trình nào thì làm câu dành riêng cho chương trình đó.

Câu 3a: Dành cho thí sinh học chương trình Chuẩn:
Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau trong bài “Tây Tiến ” của Quang Dũng :
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
(Ngữ văn 12, tập một, trang 88, NXB Giáo dục, 2008)

Câu 3b: Dành cho thí sinh học chương trình Nâng cao
Phân tích nhân vật người đàn bà vùng biển trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu
(Ngữ văn 12, tập hai, trang 89, NXB Giáo dục, 2008)


HẾT

Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Giám thị không giải thích gì thêm.

Họ và tên thí sinh:............................................. ............
Số báo danh: ..........................



SỞ GD&ĐT THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT
MÔN : NGỮ VĂN

HƯỚNG DẪN CHẤM
( Hướng dẫn chấm gồm 03 trang)
I. Hướng dẫn chung
- Đề bài gồm 3 câu, theo cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT: câu 1 kiểm tra kiến thức văn học; câu 2 là bài nghị luận xã hội; câu 3 là bài nghị luận văn học. Câu 1 chủ yếu yêu cầu tái hiện kiến thức nhưng cũng có yêu cầu về diễn đạt và lập luận. Chỉ những HS diễn đạt trôi chảy, đúng chính tả, ngữ pháp mới được điểm tối đa. Câu 2 và câu 3 là bài làm văn, tích hợp kiểm tra cả kiến thức xã hội, kiến thức văn học và kĩ năng diễn đạt, kĩ năng lập luận của HS.
- Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh đếm ý cho điểm một cách máy móc.
- Do sử dụng đồng thời hai bộ sách giáo khoa nên giám khảo cần linh hoạt trong việc vận dụng đáp án. Không buộc học sinh phải trả lời đúng theo cách diễn đạt của bộ sách nào.
- Nên sử dụng nhiều mức điểm một cách hợp lí; không yêu cầu quá cao đối với mức điểm 9, 10; khuyến khích những bài làm có ý riêng, sáng tạo, văn viết có cảm xúc…
- Chỉ làm tròn điểm toàn bài (lẻ 0,25 làm tròn thành 0,5; lẻ 0,75 làm tròn thành 1,0)

II. Đáp án và thang điểm

- PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH

Câu 1: (2 điểm) :
1/ Yêu cầu về kiến thức: học sinh có thể trình bày khác nhau song cần có các ý sau:
- Giá trị lịch sử.
Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn: là lời tuyên bố xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến; là sự khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng của Việt Nam với thế giới; là mốc son lịch sử mở ra kỉ nguyên độc lập tự do trên đất nước ta.
- Giá trị nghệ thuật:
Tuyên ngôn độc lập là áng văn chính luận đặc sắc, mẫu mực; lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, giọng văn đầy cảm xúc…
2/ Cho điểm :
- Điểm 2,0: Đáp ứng các yêu cầu về nội dung. Diễn đạt tốt. Chấp nhận một vài lỗi nhỏ.
- Điểm 1,0: Trình bày được khoảng nửa số ý. Còn mắc một số lỗi chính tả, ngữ pháp.
- Điểm 0,0: Chỉ viết vài câu rời rạc, không rõ nội dung, không làm bài.
Giám khảo căn cứ vào bài làm để xác định các mức điểm cụ thể. Không yêu cầu học sinh viết đủ các cụm từ dùng trong đáp án. Sai lỗi chính tả, ngữ pháp tuỳ mức độ trừ từ 0.25đ đến 0.5đ…)
Câu 2 : (3 điểm)
a/Yêu cầu :
Về nội dung:
- Học sinh có thể giới thiệu vấn đề từ nhiều góc độ, nhưng phải nêu được ý kiến của Lê Duẩn về cái gốc của đạo đức, luân lí là lòng nhân ái.
- Giải thích lòng nhân ái : là lòng yêu thương con người. Các biểu hiện của lòng nhân ái: đồng cảm, chia sẻ, quan tâm, chăm sóc những người thiệt thòi, bất hạnh…
- Vì sao nói “cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái”: Đạo đức, luân lí là cách sống, cách ứng xử đúng đắn, phù hợp với quan niệm xã hội về lẽ phải. Cái gốc của mọi mối quan hệ xã hội đúng đắn, tốt đẹp chính là lòng yêu thương, quý trọng con người. Ngược lại, người có lòng thương yêu đất nước quê hương, thương người lao khổ, bất hạnh…là người có đạo đức tốt đẹp. Nêu một vài dẫn chứng làm rõ lập luận.
- Lòng nhân ái là nguồn gốc, là động lực thúc đẩy mọi ý nghĩ , mọi hành động để con người có sức mạnh vượt qua mọi khó khăn..
- Suy nghĩ của bản thân trong việc bồi dưỡng lòng nhân ái.
Về kĩ năng:
- Học sinh nắm vững kĩ năng làm bài văn nghị luận về các vấn đề xã hội, biết nêu vấn đề, giải thích, chứng minh, đánh giá vấn đề; từ đó rút ra bài học cho bản thân.
- Bài làm có bố cục rõ ràng ; diễn đạt mạch lạc ; ít mắc lỗi chính tả, ngữ pháp.
b/Cho điểm:
- Điểm 3: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên. Văn viết trôi chảy. Chấp nhận một vài lỗi nhỏ.
- Điểm 2: Đáp ứng yêu cầu ở mức khá; biết tìm dẫn chứng làm rõ lập luận.Văn viết trôi chảy; có thể mắc 3- lỗi chính tả, ngữ pháp .
- Điểm 1: Không rõ lập luận, không biết giải thích khái niệm, giải thích không chính xác; không có dẫn chứng; bài làm sơ sài, thiếu nhiều ý ; có trên 4 lỗi chính tả, ngữ pháp.
- Điểm 00 : Để giấy trắng hoặc chỉ viết vài dòng không rõ ý.

Câu 3a: Dành cho thí sinh học chương trình Chuẩn
a/ Yêu cầu
Về nội dung :
Bài làm cần có các nội dung chính sau :
- Giới thiệu được những nét cơ bản về tác giả, hoàn cảnh ra đời, chủ đề của tác phẩm. Giới thiệu đoạn thơ cần phân tích.
- Bốn câu đầu đoạn trích là nỗi nhớ về những đêm liên hoan văn nghệ cuả các chiến sĩ Tây Tiến và đồng bào địa phương. Nỗi nhớ thiết tha nên kí ức sống động, chân thực: các chi tiết vừa thực vừa mộng, lãng mạn. Nhà thơ miêu tả rất thành công không khí tưng bừng, sôi nổi; niềm hạnh phúc ngây ngất của các chiến sĩ trong những đêm văn nghệ ấy.
Học sinh cần hiểu đúng, giải thích hợp lí các từ ngữ: đuốc hoa, xiêm áo, man điệu…
- Bốn câu sau là nỗi nhớ về thiên nhiên, con người Tây Bắc với những nét độc đáo, ấn tượng: cảnh chiều sương Châu Mộc mà hồn thiên nhiên như đọng lại ở bờ lau, bến lách hoang dại. Đó là “ dáng người trên độc mộc”, vượt trên nước lũ, thể hiện vẻ đẹp mềm mại mà hào hùng trong công cuộc chế ngự thiên nhiên…
- Chỉ ra vài nét tiêu biểu về nghệ thuật trong đoạn thơ và bài thơ: bút pháp lãng mạn; hình ảnh sống động, độc đáo, từ ngữ chính xác giàu chất tạo hình. Giọng thơ linh hoạt: khi hào hùng rắn rỏi, khi uyển chuyển mềm mại, tinh tế…
Về kĩ năng :
- Học sinh nắm vững kĩ năng làm bài văn nghị luận phân tích một đoạn thơ
- Bài làm có bố cục rõ ràng ; diễn đạt mạch lạc ; ít mắc lỗi chính tả, ngữ pháp.
b/ Biểu điểm :
- Điểm 5: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên ; kĩ năng giảng bình tốt, văn viết trôi chảy, có cảm xúc ; không mắc nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp (1-2 lỗi).
- Điểm 4 : Đáp ứng yêu cầu ở mức khá; giải thích từ ngữ, hình ảnh hợp lí, văn viết khá trôi chảy; có thể mắc 3-4 lỗi chính tả, ngữ pháp .
- Điểm 3 : Hiểu nội dung đoạn thơ. Trình bày được khoảng nửa số ý. Văn viết chưa thật trôi chảy. Khá nhiều lỗi ngữ pháp, chính tả.
- Điểm 2 : Không nắm vững nội dung đoạn thơ, giảng bình từ ngữ, hình ảnh thơ sơ sài, thiếu nhiều ý ; mắc nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp.
- Điểm 1 : Không nắm vững tác giả, tác phẩm; hiểu sai nội dung đoạn thơ; không biết giảng bình từ ngữ, hình ảnh thơ…Bài viết có nhiều lỗi các loại.
- Điểm 0.0: Để giấy trắng hoặc chỉ viết vài dòng không rõ ý.

Câu 3b (5 điểm) : Dành cho thí sinh học chương trình Nâng cao
. a/ Yêu cầu:
Về nội dung:
- Trên cơ sở nắm vững tác phẩm và những chi tiết về nhân vật người đàn bà vùng biển, học sinh phân tích, làm rõ diễn biến tâm trạng và số phận nhân vật.. Học sinh có thể trình bày theo các cách khác nhau nhưng phải có các nội dung cơ bản sau:
- Giới thiệu những nét cơ bản về tác giả, tác phẩm; giới thiệu nhân vật người đàn bà.
- Phân tích cuộc đời, tính cách nhân vật qua ngoại hình, lời nói , hành vi…
“Người đàn bà” không có tên tuổi cụ thể, một người vô danh như biết bao người đàn bà vùng biển khác.Bà ngoài 40, thô kệch, rỗ mặt, lúc nào cũng xuất hiện với “khuôn mặt mệt mỏi”, gợi ấn tượng về một cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ. Bà thầm lặng chịu đựng mọi đớn đau, khi bị chồng đánh “không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách trốn chạy”, chỉ đơn giản bởi trong cuộc mưu sinh đầy cam go, trên chiếc thuyền kiếm sống ngoài biển xa cần có một người đàn ông khỏe mạnh và biết nghề, chỉ vì những đứa con của bà cần được sống và lớn lên. Sự cam chịu nhẫn nhục như thế thật đáng để chia sẻ, cảm thông.
Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha, đức hi sinh.
- Trên cơ sở phân tích nhân vật, phát hiện những vấn đề tác giả muốn đặt ra: sự phức tạp, đa chiều của cuộc sống, tình trạng đói nghèo và nạn bạo hành gia đình mà phụ nữ, trẻ em là nạn nhân; đức hi sinh của phụ nữ Việt Nam…
- Nhận biết được những sáng tạo nghệ thuật của nhà văn về xây dụng hình tượng nhân vật.
Về kỹ năng:
- Biết làm bài văn nghị luận phân tích một nhân vật văn học trong thể loại truyện ngắn.
- Bài làm có kết cấu chặt chẽ, bố cục rõ ràng, diễn đạt tốt. Không mắc lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp
2/ Cho điểm:
- Điểm 5 : Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu nêu trên. Văn viết có cảm xúc. Diễn đạt rõ ràng. Có thể còn một vài sai sót nhưng không đáng kể.
- Điểm 4: Đáp ứng cơ bản các yêu cầu trên. Hướng triển khai ý hợp lý. Có thể còn vài ba sai sót nhỏ.
- Điểm 3 : Nắm được nội dung tác phẩm, cuộc đời nhân vật. Trình bày được khoảng nửa số ý, ít dẫn chứng. Văn viết chưa thật trôi chảy. Khá nhiều lỗi ngữ pháp, chính tả.
- Điểm 2: Chưa hiểu kỹ đề, bài viết quá sơ sài, mắc nhiều lỗi diễn đạt.Bài làm không rõ lập luận. Có quá nhiều lỗi nhỏ.
- Điểm 1 : Học sinh không nắm được tác phẩm, sai nhiều kiến thức cơ bản, bài làm không hoàn chỉnh; văn chưa thành câu.
- Điểm 0,0: Học sinh không làm bài hoặc chỉ viết một vài câu rời rạc, không thành ý

    8 cách cải thiện hữu hiệu "bộ nhớ" của bạn

    (SSM 18.04.2011) - Thời gian gần đây, không chỉ người già, phụ nữ trong giai đoạn sinh đẻ mới than phiền rằng dạo này mình rất hay quên. Ngay cả những người còn rất trẻ cũng nhiều lúc thốt lên rằng: sao mà mình đãng trí quá. Vậy làm sao để giúp cải thiện tình hình này?

    SSM sẽ gợi ý cho bạn 8 cách để cải thiện hữu hiệu "bộ nhớ" của mình.

    1. Tập trung vào điều mình đang làm

    Khi làm việc gì đó, bạn nên chú tâm vào nó, đừng để xao nhãng bởi những cái xung quanh. Bởi khi để đầu óc xáo trộn bởi nhiều thứ, não của bạn sẽ không tiệp nhận và lưu trữ hết thông tin, có thể xảy ra tình trạng những điều cần nhớ thì bạn lại không thể nhớ.

    Ví dụ như bạn không thể vừa học bài, vừa làm việc vừa xem ti vi, vừa nghe nhạc… Vì đến khi cần nhớ đến những điều đã học thì lại không thể nhớ xem mình đã học gì.

    2. Thường xuyên luyện tập với trí não

    Nếu bạn không thường xuyên làm việc trí não thì trí não của bạn sẽ bị trì trệ và khả năng xử lí thông tin cũng như khả năng linh hoạt của não cũng giảm đi, bạn trở nên ù lì hơn.

    Vì thế, hãy thường xuyên luyện tập với bộ não của bạn, những lúc rảnh rỗi bạn có thể chơi ô chữ, thay vì sử dụng điện thoại, máy tính để tính toán thì bạn có thể tính nhẩm, học số điện thoại …

    3. Siêng năng vận động

    Việc siêng năng vận động không chỉ giúp bạn tăng cường sức khỏe mà nó còn gián tiếp ảnh hưởng đến trí nhớ của bạn. Bạn không thể có một trí nhớ tốt khi cơ thể luôn trong tình trạng mệt mỏi, uể oải. Vì vậy, muốn cải thiện và tăng cường trí nhớ thì hãy luôn đảm bảo mình có một sức khỏe tốt.

    Những bài tập như chạy bộ, đánh cầu lông, tennis… giúp tăng lượng oxy và sự tuần hoàn máu, giúp cải thiện năng lượng cho não.

    4. Ăn những thức ăn tốt cho não

    Ăn các loại cá có chứa nhiều dầu như: cá hồi, cá mòi, cá thu và cá trích rất giàu acid omega - 3 , thành phần cốt yếu của tế bào não, giúp cải thiện trí nhớ.

    Ngoài ra thì một số loại thực phẩm giàu axit folic như bông cải, chuối… Thực phẩm có chứa Vitamin B như: các loại đậu, gan; thực phẩm có chứa sắt như: thịt nạc, trứng sữa… cũng rất tốt cho não của bạn.

    5. Hãy uống nhiều nước

    Nước giúp đẩy mạnh chức năng của não, não sẽ uể oải khi bị mất nước, ảnh hưởng bất lợi đến khả năng lưu trữ thông tin và tạo dựng trí nhớ. Chính vì vậy, hãy cung cấp nước đầy đủ cho cơ thể.

    6. Ngủ đủ giấc

    Thời gian ngủ là lúc bộ não của bạn được thư giãn, nghỉ ngơi và hồi phục. Nếu bạn cứ bắt chúng làm việc liên tục mà không có chế độ nghỉ ngơi thích hợp, ngủ đủ giấc thì trí nhớ của bạn sẽ trở nên kém đi vì chúng không được nạp đủ năng lượng. Hãy đảm bảo rằng bạn ngủ ít nhất 7 tiếng mỗi ngày và dành 15 phút cho mỗi giấc ngủ trưa nếu bạn muốn có một trí nhớ thật tốt.

    7. Gạt bỏ mọi lo lắng, muộn phiền

    Bạn không thể nhớ tốt nếu như đầu óc bạn lúc nào cũng bị những nỗi lo lắng và muộn phiền bủa vây. Chính những nỗi lo lắng này sẽ làm cho bạn không còn tâm trí để ý những điều xung quanh và như vậy khả năng ghi nhớ và phân tích thông tin của bạn sẽ kém đi. Vì thế, muốn cải thiện trí nhớ của mình, bạn nên cố gắng gạt bỏ những ưu tư, phiền muộn và lo lắng của mình.

    8. Lặp lại những điều cần nhớ

    Nếu bạn muốn mình nhớ điều gì, ngoài việc tập trung ghi nhớ thì bạn hãy nghĩ tới, hoặc lặp đi lặp lại điều mình cần nhớ càng nhiều thì càng tốt cho bạn bấy nhiêu. Bạn có thể lặp đi lặp lại điều mình cần nhớ bằng cách suy nghĩ đến nó, nói to, nhẩm trong miệng hoặc viết ra giấy. Bạn sẽ thấy cách này rất hiệu quả trong việc cải thiện trí nhớ của bạn.

    Hạnh Phan

    Thi HK2 Lớp 9 2010-2011 ở TP.HCM


    SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
    THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    ------------------------
    ĐỀ CHÍNH THỨC
    (Đề thi có 1 trang)
    ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II LỚP 9 THCS
    NĂM HỌC 2010 - 2011
    MÔN THI: NGỮ VĂN
    Thời gian làm bài: 90 phút
    (không kể thời gian giao đề)

    Câu 1 (1 điểm): Viết bốn câu cuối bài thơ Nói với con của Y Phương và cho biết người cha dặn con điều gì trong bốn câu thơ ấy.
    Câu 2 (1 điểm): Tìm thành phần biệt lập trong đoạn văn sau và cho biết tên gọi của thành phần ấy.
    Đến lượt cô gái từ biệt. Cô chìa tay ra cho anh nắm, cẩn trọng, rõ ràng, như người ta cho nhau cái gì chứ không phải là cái bắt tay. Cô nhìn thẳng vào mắt anh – những người con gái sắp xa ta, biết không bao giờ gặp ta nữa, hay nhìn ta như vậy.
    (Lặng lẽ Sa Pa – Nguyễn Thành Long)
    Câu 3 (3 điểm):
    ĐỪNG SỢ VẤP NGÃ
    Đã bao lần bạn vấp ngã mà không hề nhớ. Lần đầu tiên chập chững bước đi, bạn đã bị ngã. Lần đầu tiên tập bơi, bạn uống nước và suýt chết đuối phải không ? Lần đầu tiên chơi bóng bàn, bạn có đánh trúng bóng không ? Không sao đâu vì …
    (Ngữ văn 7, tập 2, trang 41)
    Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi) để trình bày lí do vì sao chúng ta không nên sợ vấp ngã.
    Câu 4 (5 điểm): Cảm nhận của em về hai khổ thơ sau:
    Mọc giữa dòng sông xanh
    Một bông hoa tím biếc
    Ơi con chim chiền chiện
    Hót chi mà vang trời
    Từng giọt long lanh rơi
    Tôi đưa tay tôi hứng.
    Mùa xuân người cầm súng
    Lộc giắt đầy trên lưng
    Mùa xuân người ra đồng
    Lộc trải dài nương mạ
    Tất cả như hối hả
    Tất cả như xôn xao …
     (Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải)
    … … … .HẾT. … … …
    Thí sinh không sử dụng tài liệu. Giám thị không giải thích gì thêm.
    Họ và tên thí sinh:………………………………………… Số báo danh:………………...
    SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
    THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


    KIỂM TRA HỌC KÌ II LỚP 9 THCS
    NĂM HỌC 2010 - 2011
    MÔN THI: NGỮ VĂN
    Thời gian làm bài: 90 phút

    HƯỚNG DẪN CHẤM

    I. HƯỚNG DẪN CHUNG 
    -  Đề bài gồm 4 câu: câu 1 và câu 2 kiểm tra kiến thức Văn học và thực hành bài tập Tiếng việt; câu 3 là bài nghị luận xã hội; câu 4 là bài nghị luận văn học. Câu 1 và 2 chủ yếu yêu cầu tái hiện kiến thức nhưng cũng có yêu cầu về diễn đạt. Những học sinh diễn đạt trôi chảy, đúng chính tả, ngữ pháp mới được điểm tối đa. Câu 3 và câu 4 kiểm tra kiến thức xã hội, kiến thức văn học và kĩ năng diễn đạt, lập luận.
    -  Giám khảo cần nắm nội dung bài làm của học sinh để đánh giá, tránh đếm ý cho điểm một cách máy móc. Chú ý khuyến khích các bài viết có ý riêng, sáng tạo.
    -  Thí sinh có thể trình bày, triển khai ý theo các cách riêng, nếu đáp ứng các yêu cầu vẫn cho đủ điểm.
            II. ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM
    Đáp án
    Điểm
    Câu 1
    Viết thuộc lòng 4 câu cuối bài thơ Nói với con của Y Phương và cho biết người cha dặn con điều gì trong bốn câu thơ ấy.
    1,0
    -       Viết thuộc lòng 4 câu thơ:
    Con ơi tuy thô sơ da thịt
    Lên đường
    Không bao giờ nhỏ bé được
    Nghe con.
    -       Người cha khuyên con bước vào đời luôn vững tin, mạnh mẽ, sống đường hoàng, vững chãi…
    0,5



    0,5
    -       Viết chính xác 4 câu thơ: sai một lỗi trừ 0,25 điểm.
    -       Về lời khuyên: chấp nhận những ý hợp lí khác; nêu 1 ý đạt 0,5 điểm.

    Câu 2
    Tìm thành phần biệt lập.
    1,0
    -       Thành phần phụ chú: những người con gái sắp xa ta, biết không bao giờ gặp ta nữa, hay nhìn ta như vậy.
    1,0
    -         Gọi tên thành phần biệt lập đạt 0,5 điểm; chỉ rõ từ ngữ đạt 0,5 điểm, nêu thừa hoặc thiếu 0,25 điểm.

    Câu 3
    Viết bài văn ngắn trình bày lí do vì sao không nên sợ vấp ngã.

    3,0

    a.Yêu cầu về kĩ năng
    -    Nắm phương pháp làm bài nghị luận xã hội.
    -    Bố cục và hệ thống ý sáng rõ.
    -    Biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác nghị luận (giải thích, chứng minh, bình luận… ).
    -    Văn trôi chảy, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục. Không mắc lỗi diễn đạt; không sai lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp; trình bày bài rõ ràng.


    b. Yêu cầu về kiến thức


    -       Giới thiệu được vấn đề nghị luận
    0,25
    -       Vấp ngã được hiểu là không đạt được điều mình muốn, không được như ý, thất bại.
    -       Cuộc sống luôn có những gian truân, trở ngại mà khả năng con người có hạn nên chúng ta thường gặp phải những việc không như ý. Tuy nhiên, thất bại có thể là môi trường rèn luyện ý chí để trưởng thành.
    -       Với bản lĩnh, ý chí, ta có thể biến thất bại thành kinh nghiệm, sự trải nghiệm để thành công sau này.
    -       Không nên lo sợ khi vấp ngã vì “thất bại là mẹ thành công”. Với sự nỗ lực, bản lĩnh, ý chí, kiên trì, chúng ta sẽ vượt qua khó khăn và đạt được kết quả tốt đẹp.
    -       Lưu ý: học sinh cần có dẫn chứng để làm sáng tỏ.
    1,75
    -       Phê phán những người nhụt chí khi thất bại, không dám đối đầu với thử thách …
    -       Rèn ý chí, thái độ sống đúng đắn.
    1,0
    Câu 4
    Cảm nhận về 2 khổ thơ đầu bài “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải
    5,0

    a.  Yêu cầu về kĩ năng
    -  Nắm phương pháp làm bài nghị luận văn học.
    -  Bố cục và hệ thống ý sáng rõ.
    -  Biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác nghị luận. Đặc biệt, phải nắm vững thao tác phân tích một đoạn trích thơ.
    -  Văn trôi chảy, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục.
    -  Không mắc lỗi diễn đạt; không sai lỗi chính tả, dùng từ; trình bày bài rõ ràng.


    b.   Yêu cầu về kiến thức

    -  Giới thiệu được vấn đề nghị luận.
    0,5
    -  Giới thiệu vài nét về tác giả Thanh Hải và tác phẩm Mùa xuân nho nhỏ.
    Lưu ý: Học sinh có thể nêu ở các phần khác nhau của bài làm.
    0,5
    -  Hình ảnh mùa xuân thiên nhiên đầy sức sống, tươi đẹp, thơ mộng, giàu hình ảnh, màu sắc, âm thanh.
    - Không khí lao động khẩn trương, tươi vui, đầy niềm tin, lạc quan của người lính cầm súng chiến đấu bảo vệ tổ quốc và của người nông dân lao động sản xuất xây dựng đất nước.
    - Mùa xuân của thiên nhiên hòa cùng mùa xuân của con người, của lòng người tạo nên một không khí vui tươi, đầy sức sống.
    - Cảm xúc rung động, say sưa, ngây ngất của tác giả trước mùa xuân thiên nhiên và mùa xuân của con người.
    - Nghệ thuật: hình ảnh thơ giàu sức gợi, các biện pháp tu từ được sử dụng hiệu quả, từ ngữ tinh tế …
    3,0
    Lưu ý: Học sinh có thể triển khai các luận điểm trên theo nhiều cách khác nhau: cảm nhận về nội dung sau đó cảm nhận về nghệ thuật, phân tích nghệ thuật để nêu bật nội dung ... Giám khảo đánh giá mức điểm dựa trên kĩ năng làm bài và nội dung toàn bài của học sinh.

    -  Đánh giá, khái quát, được những vấn đề đã bàn luận.
    1,0

    ------ HẾT ------

    Môn Văn Một số dạng đề thi cần chú ý

    GiadinhNet - Tư vấn của cô giáo Bùi Thị Cúc - Giáo viên môn Văn, Trường THPT chuyên Chu Văn An (Hà Nội).

    Theo cô Bùi Thị Cúc - người đã từng tham gia giải đề thi môn Văn trên một số báo: Kiến thức cơ bản môn này ví như… gạo. Khi đi thi, các em sẽ phải biến thành cơm, cháo, bánh cuốn… nên các em cần nắm các kiến thức cơ bản và có kĩ năng biến thành "món" mình cần.
     
    Các thí sinh phải biết chủ động thời gian khi làm bài thi.
    Ảnh: Chí Cường
     
    Phân loại kiến thức
     
    Cô Cúc cho biết, cũng như nhiều bộ môn khác, các em cần nắm vững kiến thức cơ bản, kết hợp cùng sự hướng dẫn của giáo viên có kinh nghiệm để làm bài thi tốt. Muốn như thế, giáo viên ôn tập phải có kỹ năng hệ thống hóa kiến thức cho học sinh và phân loại theo chủ đề để học sinh dễ nắm bắt.
     
    Chia kiến thức môn Văn theo giai đoạn: Các tác phẩm trước năm 1975 và sau năm 1975. Nếu các tác phẩm trước năm 1975 thiên về sử thi và cảm hứng lãng mạn thì ngược lại, các tác phẩm sau năm 1975 phản ánh cuộc sống một cách chân thực, đời thường, đa chiều, gần gũi đời sống.
     
    Chia theo chủ đề: Chẳng hạn, thơ kháng chiến biểu hiện tình yêu với quê hương đất nước, trách nhiệm của công dân. Giai đoạn này, văn học phản ánh đời sống cũ, tức nỗi khổ của người lao động. Nhưng với văn học hiện thực phê phán, tư tưởng phản ánh trong các tác phẩm thường có tương lai không tuyệt vọng. Thí dụ: "Vợ chồng A phủ, Vợ nhặt"...
     
    Học sinh nên đặt các tác phẩm có cùng đề tài, cùng chủ đề. Chẳng hạn cùng viết về dòng sông có dòng sông Đà trong "Người lái đò sông Đà" của Nguyễn Tuân. Hoặc có dòng sông Hương, trong tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Các tác phẩm viết về đời sống có: "Vợ chồng A phủ"; "Vợ Nhặt"... Cùng viết về đất nước, các em biết so sánh hình ảnh đất nước trong tác phẩm của Nguyễn Đình Thi và của Nguyễn Khoa Điềm. Đây là dạng đề mà khối C hay ra trong nhiều năm gần đây.
     
    Đặc biệt, tất cả đề thi phần Nghị luận Văn học đều có dẫn chứng. Cô Cúc lưu ý học sinh, các dẫn chứng các em đưa ra cần phải "tinh", có tính chọn lọc, xác đáng. Muốn như vậy, học sinh phải đọc nhiều, chẳng hạn sách tham khảo cũng có mặt tốt vì giúp các em quen với cách diễn đạt lưu loát. Và quan trọng trong khi học, các em nên gạch chân những dẫn chứng quan trọng của từng tác phẩm để khi làm bài còn có dẫn chứng.

    Chia thời gian cho từng điểm
     
    Qua kinh nghiệm ôn luyện và giải đề thi nhiều năm, cô Cúc cho biết, nhiều năm gần đây, đề thi thường ra theo kiểu, câu 1 hệ thống hóa kiến thức (2 điểm). Chủ yếu câu này liên quan đến kiến thức Văn học nước ngoài. Có nhiều dạng đề thi học sinh cần nắm trong phần này, thí dụ câu hỏi tác giả, nội dung sáng tác. Phần văn học nước ngoài đầu thế kỉ XX trong chương trình THPT có 3 tác giả tiêu biểu: Mỹ có Hemingway; Nga có Solokhov và Trung Quốc có Lỗ Tấn. Ít nhất, học sinh phải nhớ 3 tác phẩm tiêu biểu của 3 tác giả này gồm: "Sông Đông êm đềm"; "Thuốc"; "Ông già và biển cả". Gần đây, đề thi của phần này thường đi vào kĩ năng đọc hiểu nên học sinh cần nắm được ý nghĩa của các sự kiện chính.
     
    "Trong một bài văn, các em trình bày các luận điểm rõ ràng, không viết tắt, viết số và nên viết bằng bút sẫm màu".
    Câu 2 (3 điểm) thường là phần nghị luận xã hội. Ở lớp 12, có 2 dạng đề cho phần này nhưng thường chia thành 3 kiểu. Nghị luận về một tác phẩm đạo lý. Ví dụ: "Hãy viết một bài văn ngắn nói về tác dụng của việc đọc sách". Để làm tốt phần này, các em cần biết cách tổ chức một bài văn với các phần: Mở bài; thân bài; kết luận. Từ đó, vận dụng xem vấn đề đúng hay sai, vì sao và liên hệ với bản thân.
     
    Thứ hai là trình bày cảm nghĩ về một hiện tượng xã hội. Thí dụ: Hiện tượng trái đất đang nóng dần lên; hiện tượng sống thử trong giới trẻ hiện nay... Để làm tốt phần này, các em phải cập nhật kiến thức xã hội qua sách báo, tivi. Khi học, các em cần cập nhật các nhân vật cụ thể để trình bày thuyết phục. Tuy nhiên, đề thi nhiều năm gần đây đang bỏ ngỏ dạng này.
     
    Thứ 3, nghị luận về một tư tưởng, một vấn đề xã hội được đặt ra trong một tác phẩm văn học. Học sinh dễ bị "chết" ở dạng câu hỏi này. Chẳng hạn, Nam Cao từng viết trong "Đời thừa": "Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm đạp lên vai người khác mà nâng người khác trên vai mình". Học sinh rất dễ bị lệch sang phân tích tác phẩm. Khi gặp kiểu đề này, các em cần hiểu, tác phẩm chỉ là cái cớ để tác giả truyền tải một vấn đề của cuộc sống và các em phải làm nổi bật điều đó. Dạng đề này nhiều năm nay rất hay được ra trong các đề thi.
     
    Cuối cùng là câu hỏi (5 điểm) với phần nghị luận Văn học. Phần này, học sinh cũng cần nắm các kiểu đề, dạng đề. Thí dụ: Phân tích cảm thụ về một đoạn thơ; phân tích một tác phẩm để làm nổi bật giá trị nhân đạo. Nhìn chung đề thi cho phần này rất đa dạng.
     
    Cuối cùng, các em cần biết chủ động thời gian khi làm bài. Thông thường, đề thi tốt nghiệp môn Văn khoảng 150 phút. Mỗi điểm, các em nên dành khoảng 10-12 phút. Thời gian còn lại để dự trữ và làm câu cuối vì đây là câu điểm cao. Các em nên nhớ, để đạt được 5-6 điểm thi môn Văn không khó. Kiến thức cơ bản được ví như... gạo. Khi đi thi, các em sẽ phải biến thành cơm, cháo, bánh cuốn... nên cần nắm các kiến thức cơ bản và có kĩ năng biến thành "món" mình cần.
     
    Hà Mỹ

    Công bố định hướng đề thi tốt nghiệp THPT 2011

    TTO. Thứ Sáu, 08/04/2011, 09:32 (GMT+7)
    TT - 50% nội dung đề thi tốt nghiệp sẽ đòi hỏi thí sinh phải biết vận dụng kiến thức mới làm được bài, tiếp tục ra các câu hỏi mở trong đề thi các môn tự luận... là những thông tin quan trọng liên quan đến kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2011 được Bộ GD-ĐT công bố chiều 7-4.

    Đề thi tốt nghiệp THPT năm 2011 sẽ cụ thể hóa yêu cầu vận dụng kiến thức. Trong ảnh: học sinh lớp 12 Trường THPT dân lập Thái Bình (TP.HCM) ôn thi chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp - Ảnh: Như Hùng
    Cuộc họp báo thường kỳ quý 1-2011 được Bộ GD-ĐT tổ chức chiều 7-4 dưới sự chủ trì của Thứ trưởng Nguyễn Thị Nghĩa. Chủ đề được đại diện các cơ quan báo chí quan tâm, tập trung chất vấn là những nội dung liên quan đến kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2011 được đại diện Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục - đơn vị chịu trách nhiệm ra đề thi và Vụ Giáo dục trung học - đầu mối hướng dẫn ôn tập và chuẩn bị cho kỳ thi - đưa ra tại cuộc họp báo.
    50% nội dung đề yêu cầu vận dụng kiến thức
    "Đặt ra yêu cầu 50% nội dung đề thi phải đòi hỏi thí sinh giải quyết bằng kỹ năng thông hiểu, vận dụng kiến thức là làm rõ hơn những nội dung chúng tôi đã triển khai hướng dẫn từ đầu năm học mà các nhà trường đã phải thực hiện, hướng dẫn cho HS trong quá trình học tập và ôn tập."
    Ông VŨ ĐÌNH CHUẨN
    Ông Trần Văn Nghĩa, phó cục trưởng Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục, cho biết định hướng đối với đề thi các môn thi tốt nghiệp THPT năm 2011 là yêu cầu vận dụng kiến thức trong đề thi sẽ chiếm 50% nội dung và điểm số, 50% còn lại là để kiểm tra kiến thức.
    Trả lời câu hỏi của các phóng viên về định hướng liên quan trực tiếp đến thí sinh trong kỳ thi tốt nghiệp THPT này, ông Nghĩa cho biết 50% nội dung đề thi yêu cầu thí sinh phải biết vận dụng kiến thức là một định hướng mới sẽ thực hiện trong việc ra đề thi tốt nghiệp năm 2011.
    Nhưng ông Nghĩa cũng khẳng định: “Định hướng này sẽ chỉ cụ thể hơn mức độ yêu cầu của đề thi đã được đề cập trong quy chế và các văn bản hướng dẫn dạy - học và thi tốt nghiệp của bộ chứ không làm thay đổi nhiều lắm trong cấu trúc, nội dung, mức độ yêu cầu của đề thi. Do đó, có thể nói đề thi vẫn giữ khá ổn định so với năm trước”.
    Theo ông Nghĩa, cụ thể hóa yêu cầu vận dụng kiến thức trong đề thi là một biện pháp để thực hiện triệt để, hiệu quả hơn yêu cầu đã được đặt ra nhiều năm qua đối với đề thi tốt nghiệp THPT là phải để HS tránh học vẹt, học tủ, chỉ học thuộc lòng mà không vận dụng được kiến thức...
    Đối với câu hỏi của Tuổi Trẻ về việc định hướng ra đề thi nêu trên có tương đồng với định hướng chung về mức độ yêu cầu đề thi tốt nghiệp của Bộ GD-ĐT phải đảm bảo HS có học lực trung bình, có ôn tập... là có thể đạt được điểm 5 trở lên, ông Nghĩa cho rằng: “Đối với HS có học lực trung bình, khi tốt nghiệp THPT cũng phải có kỹ năng vận dụng kiến thức chứ không thể chỉ học thuộc lòng kiến thức”.
    Giải đáp cụ thể hơn về định hướng 50% nội dung đề thi tốt nghiệp THPT năm nay sẽ gắn với yêu cầu đòi hỏi HS phải biết vận dụng kiến thức, ông Vũ Đình Chuẩn - vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học - khẳng định điểm mới này đã được Bộ GD-ĐT triển khai cụ thể ngay từ đầu năm học trong các văn bản hướng dẫn nhiệm vụ năm học của giáo dục phổ thông ban hành từ tháng 8-2010 đến các văn bản hướng dẫn về thi kiểm tra đánh giá, hướng dẫn ôn tập thi tốt nghiệp... Vì vậy đó không phải là một yêu cầu mới gây bất ngờ đối với thí sinh và các trường THPT.
    Ông Chuẩn nhìn nhận: “Trong dạy - học, lâu nay Bộ GD-ĐT vẫn đặt ra yêu cầu HS phải học theo chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình. Thi cử, đánh giá trên cả ba khía cạnh nhận biết, thông hiểu và vận dụng. Tuy nhiên phải thừa nhận trên thực tế những năm qua, HS khi làm bài thi chủ yếu vẫn tập trung vào yêu cầu nhận biết.
    Vì vậy, năm nay ngay từ hướng dẫn đầu năm học đến các văn bản hướng dẫn ôn tập thi, chúng tôi đều nhấn mạnh yêu cầu nhà trường, giáo viên chú trọng việc hướng dẫn HS trong quá trình học tập, kiểm tra, ôn tập chú ý kết hợp cả ba kỹ năng nhận biết, thông hiểu và vận dụng kiến thức”.
    Được tổ chức thi thử?
    Trao đổi về phản ảnh của các phóng viên liên quan đến việc tổ chức thi thử tốt nghiệp ở các trường THPT, trong đó có ý kiến cho rằng nhiều trường đang tổ chức thi thử một cách nặng nề, gây áp lực tâm lý căng thẳng cho thí sinh, ông Trần Văn Nghĩa cho biết: trong các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ GD-ĐT đều không đặt ra vấn đề tổ chức thi thử tốt nghiệp cho HS.
    Việc các trường tổ chức thi thử hay không là nằm trong phạm vi chỉ đạo của các sở GD-ĐT địa phương và thuộc quyền chủ động của hiệu trưởng các trường THPT. Tùy từng địa phương chọn phương thức thực hiện, bộ không có quy định phải tổ chức hay không được tổ chức thi thử.
    Tuy nhiên, ông Nghĩa cũng nêu quan điểm cá nhân: “Theo cá nhân tôi, thi thử cũng có tác dụng nhất định có lợi cho thí sinh và nhà trường. Nhà trường có thể nắm được tình hình ôn tập, khả năng của HS để tiếp tục tổ chức ôn tập, thí sinh có thể định lượng được khả năng của mình, có sự điều chỉnh cách ôn tập cho phù hợp. Khi tổ chức thi thử như một kỳ thi thật, nhà trường và giáo viên sẽ rất vất vả...”.
    Về vấn đề này, ông Vũ Đình Chuẩn cho rằng việc tổ chức thi thử là một giải pháp chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp và thuộc quyền chủ động của các nhà trường. “Giáo viên, nhà trường cần có những kênh để thu thập thông tin, đánh giá kết quả ôn tập của HS nhằm có điều chỉnh hợp lý, kịp thời hướng dẫn từng nhóm HS ôn tập phù hợp. Thi thử trong trường hợp này giống như khảo sát kỹ năng, kiến thức của HS.
    Nhưng tất nhiên khi tổ chức thi thử cần có sự đồng thuận của HS, phụ huynh HS với chủ trương của nhà trường. Cũng không nên lạm dụng, tổ chức thi thử quá nhiều để khỏi ảnh hưởng đến thời gian, tâm lý, sức khỏe của thí sinh”- ông Chuẩn lưu ý thêm.
    Đề thi có câu hỏi mở
    Cũng liên quan đến đề thi, trả lời câu hỏi của các phóng viên: Năm nay đề thi tốt nghiệp THPT có tiếp tục ra các câu hỏi mở, ông Trần Văn Nghĩa cho biết: “Đề thi phải tuân thủ theo các quy định của quy chế. Năm nay quy chế tốt nghiệp THPT không có thay đổi. Như vậy, đề thi tiếp tục ra theo hướng bám sát chương trình, tránh học tủ, học vẹt, đánh giá đúng khả năng và kiến thức của thí sinh. Câu hỏi mở trong đề thi là nhằm mục đích này. Vì vậy đề thi tốt nghiệp các môn tự luận năm nay sẽ tiếp tục có các câu hỏi mở”.
    THANH HÀ
    email
    email
    http://tuoitre.vn/Images/bookmark/google_48.png http://tuoitre.vn/Images/bookmark/facebook_48.png http://tuoitre.vn/Images/bookmark/myspace_48.png http://tuoitre.vn/Images/bookmark/yahoobuzz_48.png http://tuoitre.vn/Images/bookmark/twitter_48.png http://tuoitre.vn/Images/bookmark/digg_48.png
    top