TS ĐH 2011: Đề thi - Gợi ý Môn Văn Khối D


ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2011
Môn: NGỮ VĂN; Khối: D
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề
PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu I. (2,0 điểm)
Trong đoạn trích bài thơ Việt Bắc (Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2009), Tố Hữu đã sử dụng những phương tiện nghệ thuật giàu tính dân tộc nào? Những phương tiện đó phù hợp với việc diễn tả tình cảm gì của người cán bộ kháng chiến và nhân dân Việt Bắc?
Câu II. (3,0 điểm)
Đừng cố gắng trở thành người nổi tiếng mà trước hết hãy là người có ích.
Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến trên.
PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu III.a hoặc III.b)
Câu III.a. Theo Chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
            “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam là một truyện ngắn trữ tình đượm buồn.
            Anh/chị hãy phân tích khung cảnh phố huyện và tâm trạng của nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ để làm sáng tỏ ý kiến trên.
Câu III.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)
“Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa
                                    Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường
                                    Con đã đi nhưng con cần vượt nữa
                                    Cho con về gặp lại Mẹ yêu thương.

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
                                    Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa,
                                    Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
                                    Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.”
                                                (Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên, Ngữ văn 12 Nâng cao,
                                                Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 106)
            Phân tích đoạn thơ trên để thấy được chất suy tưởng triết lí và nghệ thuật sáng tạo hình ảnh của Chế Lan Viên.
 ---------------------------------------------------
BÀI GIẢI GỢI Ý
Câu I: Thí sinh trả lời ngắn gọn, đảm bảo các ý sau:
1.      Tố Hữu đã sử dụng những phương tiện nghệ thuật giàu tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc:
_ Thể thơ lục bát mềm mại, uyển chuyển của dân tộc được Tố Hữu sử dụng điêu luyện kết hợp với lối hát đối đáp giao duyên vốn quen thuộc trong ca dao dân ca
_ Tác giả đã chọn lựa và sử dụng thật linh hoạt và đầy sáng tạo cặp đại từ nhân xưng vốn quen thuộc trong ca dao dân ca “mình – ta”
_ Tác giả đã sử dụng những biện pháp tu từ truyền thống (so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, cường điệu, điệp từ, điệp ngữ …) cũng như sử dụng những từ láy và cách nói quen thuộc của thơ ca dân gian đã tạo nên nhạc tính dân tộc của bài thơ như giọng điệu tâm tình.
2.      Những phương tiện nghệ thuật trên rất phù hợp với việc diễn tả tình cảm lớn, ân tình cách mạng (tình quân dân “cá nước” trong chín năm kháng chiến gian khổ mà hào hùng ở núi rừng Việt Bắc, tình cảm đối với Đảng và Bác Hồ kính yêu) giữa người cán bộ kháng chiến về xuôi và nhân dân (người ở lại) Việt Bắc, làm cho tình cảm giữa họ kín đáo mà không xa vời, gắn bó thắm thiết, mặn nồng sâu sắc mà không gượng gạo, không sỗ sàng.
Câu II : Thí sinh cần đáp ứng những yêu cầu cơ bản của câu hỏi : Viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ về ý kiến : Đừng cố gắng trở thành người nổi tiếng mà trước hết hãy là người có ích.
Thí sinh có thể trình bày bài viết theo những nội dung cụ thể khác nhau. Sau đây là một số gợi ý :
            - Giới thiệu ý kiến của đề bài: Đừng cố gắng trở thành người nổi tiếng mà trước hết hãy là người có ích.
            - Giải thích :
            + Người nổi tiếng : là người có tiếng tăm được nhiều người biết đến.
            + Người có ích : là người có cuộc sống có ích, có ý nghĩa, cũng cần thiết và có giá trị đối với người khác, gia đình, xã hội.
            + Ý kiến là một lời khuyên về một trong những mục đích sống của con người : hãy sống với một mục đích sống chân chính đừng cố gắng theo đuổi tiếng tăm, danh vọng mà hãy quan tâm đến giá trị của cuộc sống, nhất là với mọi người.
            - Phân tích chứng minh :
            + Đừng cố gắng trở thành người nổi tiếng :
            × Tiếng tăm, danh vọng :  thường không phải là mục đích cao đẹp nhất của cuộc sống.
            × Danh vọng có thể làm tha hóa con người, làm băng hoại đạo đức và đẩy con người ta vào tội lỗi.
            × Để cố trở thành người nổi tiếng có những người đã đi vào những con đường bất chính, sử dụng những phương cách xấu xa. Do đó, nổi tiếng như thế chỉ là vô nghĩa.
            + Trước hết, hãy là người có ích :
            × Người sống có ích mang lại nhiều ích lợi cho người khác trong cuộc sống.
            × Sống có ích sẽ làm thăng hoa giá trị con người, thăng hoa giá trị cuộc sống.
            × Người có ích dù không được nổi tiếng nhưng cuộc sống của họ là cần thiết, có giá trị, có ý nghĩa đối với người khác, gia đình, xã hội. Ngay cả trong quan niệm của người xưa về “chí nam nhi”, chữ “danh” (Phải có danh gì với núi sông) luôn gắn với thực chất của hành động (Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ).
            - Bình luận :
+ Nổi tiếng cũng có mặt tốt, có tác dụng tốt. Tiếng nói của người nổi tiếng thường có tác động nhiều hơn, lớn hơn đối với người khác, xã hội.
+ Nhưng đừng cố gắng chạy theo việc trở thành người nổi tiếng bằng mọi cách vì điều đó mang lại nhiều tác hại. Hãy để cho tiếng tăm được đến một cách tự nhiên bằng hành động có thực chất: hữu xạ tự nhiên hương.
+ Làm sao để là người có ích :
× Hãy sống có lý tưởng;
× Hãy sống có đạo đức, có trách nhiệm;
× Hãy sống vì gia đình, vì xã hội, vì cộng đồng;
+ Ý kiến này là một biểu hiện cụ thể của vấn đề danh và thực trong cuộc sống con người. Giải quyết tốt mối quan hệ của vấn đề nổi tiếng và có ích, của danh và thực, người ta sẽ dễ có cuộc sống bình an, hạnh phúc, chân chính.
- Đây là một ý kiến có giá trị đúng đắn. Đồng thời nó cũng là một lời khuyên rất có tính thời sự, nhất là trước hiện tượng một bộ phận giới trẻ ngày nay đang có xu hướng tìm sự nổi tiếng bằng mọi giá.
Câu III.a.
1.Giới thiệu vấn đề cần nghị luận
- Thạch Lam là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Ông là thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn nhưng có một gương mặt riêng so với các nhà văn của Tự lực văn đoàn.  Văn của Tự lực văn đoàn thường đượm nỗi buồn lãng mạn còn văn của Thạch Lam lại chất chứa những nỗi đau hiện thực. Nó như một thứ “hương hoàng lan” được chưng cất từ những nỗi đời.
- Truyện ngắn Hai đứa trẻ in trong tập Nắng trong vườn (1938), rất tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Thạch Lam. Đó là kiểu truyện ngắn trữ tình đượm buồn. Nét phong cách này thể hiện sâu sắc ở khung cảnh phố huyện và tâm trạng của nhân vật Liên trong tác phẩm.
            2.Phân tích làm rõ ý kiến
a.Giải thích ý kiến: Truyện ngắn của Thạch Lam là kiểu truyện ngắn trữ tình đượm buồn. Vì truyện của ông là kiểu truyện tâm tình, dường như không có cốt truyện; giàu cảm xúc, nhẹ nhàng mà thấm thía như một bài thơ. Truyện Hai đứa trẻ bộc lộ niềm cảm thương chân thành của nhà văn với cuộc sống chìm khuất, mòn mỏi, quẩn quanh của những con người nhỏ nhoi nơi phố huyện tăm tối, cùng sự trân trọng những ước mong khiêm nhường mà thiết tha của họ về một cuộc sống trong sáng, tốt đẹp hơn.
b.Phân tích làm rõ ý kiến
Bức tranh phố huyện được miêu tả theo trình tự thời gian: Cảnh phố huyện lúc chiều xuống. Cảnh phố huyện lúc đêm về. Cảnh phố huyện lúc có chuyến tàu khuya đi qua. Liên là một cô gái nhỏ. Vì cha mất việc cả nhà phải chuyển từ Hà Nội về sinh sống ở một phố huyện nghèo. Tuy còn nhỏ nhưng Liên đã tỏ ra đảm đang, thay mẹ trông coi một quán tạp hóa nhỏ để kiếm sống và Liên cũng rất chu đáo khi thay mẹ chăm sóc em là bé An. Đặc biệt Liên là một cô gái nhỏ dịu hiền, nhân hậu, đa cảm. Diễn biến tâm trạng của nhân vật Liên được khắc họa qua ba cảnh phố huyện, như ba nấc thang tâm lí: chiều muộn, đêm về và chuyến tàu khuya qua phố huyện.
- Trước hết là tâm trạng buồn man mác của Liên, khi chiều về, phố huyện hiện lên trong sự nghèo khổ, xơ xác:
            + Với cảm xúc và bút pháp lãng mạn, thì cảnh thiên nhiên phố huyện mang một vẻ đẹp trữ tình thơ mộng.
+ Với cảm xúc và bút pháp hiện thực thì cuộc sống xã hội nơi phố huyện lại là bức tranh nghèo khổ, xơ xác, tăm tối. Cái áo khoác ngoài thơ mộng của thiên nhiên cũng không che lấp nổi cảnh ngày tàn, cảnh chợ tàn và cảnh những kiếp người tàn.
 + Liên tuy không lam lũ vất vả như những mảnh đời kia nhưng là những số phận đáng thương nhất. Vì quá khứ tươi đẹp của hai chị em Liên đã thuộc về dĩ vãng. Hiện tại thì buồn tẻ, tăm tối, bế tắc. Chúng có cái để so sánh, để cảm nhận cuộc sống tăm tối tẻ nhạt của phố huyện. Đúng là cuộc sống phố huyện cứ đang tàn dần, lụi dần trong đói nghèo lam lũ, quẩn quanh. Những tâm hồn mới lớn như chị em Liên, chứng kiến những cảnh đó không buồn sao được. Nhưng vì còn là những đứa trẻ nên nỗi buồn cũng chỉ “man mác”, đọng trong đôi mắt Liên “bóng tối ngập đầy dần”. Và cái buồn của chiều quê thấm vào tâm hồn ngây thơ của Liên.
- Liên càng buồn thấm thía hơn khi đêm về, phố huyện chìm trong bóng tối và cuộc sống cứ lặp lại đơn điệu, buồn tẻ, bế tắc.
+ Về đêm phố huyện là sự tương tranh giữa bóng tối và ánh sáng. Màn đêm buông xuống, bóng tối cứ lan dần từng con đường nhỏ, từng ngõ xóm, để rồi nhấn chìm phố huyện trong bóng tối dày đặc. Ánh sáng phố huyện cũng nhiều: có ánh sáng của thiên nhiên (ánh sao, ánh đom đóm), có ánh sáng của cuộc sống lao động nhưng chỉ là những khe, chấm, hột…tất cả đều quá nhỏ nhoi, yếu ớt trước vũ trụ thăm thẳm bao la ngập trong bóng tối. Nó không đủ thắp sáng phố huyện mà dường như chỉ càng tôn lên màn tối dày đặc bao phủ phố huyện nghèo.
+ Khi đêm về cuộc sống phố huyện cứ lặp đi lặp lại đơn điệu, buồn tẻ, bế tắc. Ngày hôm nay là sự lặp lại y nguyên những gì đã diễn ra hôm qua và sẽ lặp lại ở ngày mai. Mẹ con chị Tí lại dọn hàng nước, gia đình bác xẩm lại xuất hiện với tiếng đàn ế khách. Bác phở Siêu lại gánh phở đi bán…Phố huyện như một sân khấu cuộc đời chỉ độc diễn một màn buồn tẻ, không có sự thay đổi cả người lẫn cảnh. Đó là cuộc sống cứ “mốc lên, mòn đi, rỉ ra, mục ra” không lối thoát (Sống mòn- Nam Cao). Nó gợi liên tưởng tới hình ảnh “chiếc ao đời phẳng lặng” trong truyện ngắn Tỏa nhị kiều của Xuân Diệu. Nhà văn không trực tiếp tả tâm trạng này của Liên. Nhưng cảnh vật và cuộc sống phố huyện tăm tối, tẻ nhạt trong đêm lại được cảm nhận qua tâm trạng của Liên. Sống trong hoàn cảnh như vậy, chị em Liên sao không khắc khoải chờ đợi một cái gì đó dù mơ hồ, nỗi buồn dường như thấm thía hơn. Nhưng không hy vọng thì làm sao sống nổi. Và chuyến tàu đêm đã thắp lên niềm hy vọng đó.
- Cảnh chuyến tàu khuya và tâm trạng buồn vui của Liên
+ Trong cả chuỗi thời gian dài buồn tẻ thì chuyến tàu đêm qua phố huyện là cả một niềm vui lớn với hai chị em Liên. Hai đứa trẻ đêm nào cũng náo nức thức chờ tàu, không hoàn toàn xuất phát từ nhu cầu vật chất. Chúng không chờ tàu để bán hàng, dù mẹ vẫn dặn cố thức đợi chuyến tàu để bán hàng. Hai chị em chờ tàu là xuất phát từ nhu cầu cuộc sống tinh thần. Khi tàu đến Liên và An đứng cả dậy, hướng về phía con tàu và khi nó đi rồi Liên vẫn “lặng theo mơ tưởng”.
+ Con tàu đến rồi lại đi nhanh để lại trong hai đứa trẻ nỗi buồn nhớ tiếc. Tàu đi rồi phố huyện lại trở về với đêm tối và sự tĩnh lặng. Bóng đêm và sự tĩnh lặng càng nặng nề hơn. Niềm vui của hai đứa trẻ vừa lóe lên lại bị dập tắt như đám than bỗng bùng lên cháy rực rồi lụi tàn hẳn trong đêm. Nỗi chờ đợi bắt đầu khắc khoải từ khi bóng chiều đổ xuống, rồi đêm về và phố huyện vào khuya. Hai đứa trẻ khắc khoải chờ đợi từng bước đi của thời gian, từng bước xích lại gần của chuyến tàu: tàu sắp đến, tàu vụt qua, tàu đi rồi chỉ còn chấm đèn ghi nhỏ xa mãi rồi khuất sau rặng tre. Đêm tối lại bao bọc phố huyện.
3.Đánh giá
- Miêu tả khung cảnh phố huyện buồn, nghèo nàn, tẻ nhạt, bế tắc và tâm trạng của hai đứa trẻ, đặc biệt là Liên một cách trực tiếp và gián tiếp, qua thực tại và hồi ức đan xen; miêu tả bằng một giọng văn nhẹ nhàng, tinh tế, giàu chất thơ; nhà văn bộc lộ niềm xót thương những kiếp người đói nghèo cơ cực, sống quẩn quanh bế tắc trong xã hội cũ.
- Từ đó tác giả như muốn lay tỉnh những tâm hồn uể oải, đang lụi tàn, nhen lên trong họ ngọn lửa của lòng khát khao được sống một cuộc sống có ý nghĩa hơn, khát khao thoát khỏi cuộc đời tăm tối đang chôn vùi họ. Truyện ngắn Hai đứa trẻ đã thể hiện sâu sắc cái tài và cái tâm của nhà văn Thạch Lam. Cái tài của Thạch Lam là sở trường về truyện ngắn và nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế. Ông đã đem đến cho văn học dân tộc kiểu truyện ngắn trữ tình đượm buồn, truyện ngắn tâm tình. Truyện dường như không có cốt truyện, nhẹ nhàng mà thấm thía, giàu cảm xúc mà cũng giàu chất triết lí. Cái tâm của Thạch Lam là tình người sâu sắc. Thạch Lam không chỉ thấu hiểu, cảm thương những đau khổ thiệt thòi của những số phận nhỏ bé bị lãng quên khi miêu tả diễn biến tâm trạng của nhân vật Liên, mà còn thấu hiểu đồng cảm với những khát vọng chân chính của họ, dù nó mới chỉ là những khát khao rất đỗi bình dị, mơ hồ.
Câu III.b.
I. Yêu cầu về kỹ năng :
            - Biết cách làm một bài nghị luận văn học để cảm nhận đoạn thơ về nội dung, nghệ thuật.
            - Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp, dùng từ.
II. Yêu cầu về kiến thức : Trên cơ sở hiểu biết, thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cần đảm bảo các ý chính sau :
1) Giới thiệu tác giả, tác phẩm và đoạn thơ :
- Chế Lan Viên là nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ mới với phong cách thơ suy tưởng, giàu triết lí và nghệ thuật tạo hình sâu sắc.
- “Tiếng hát con tàu”     ® trích từ trong tập “Ánh sáng và phù sa”(1960).
                                    ® trích dẫn đoạn thơ (nêu cảm nhận chung về đoạn thơ - trình tự của mạch thơ)
2) · Phân tích cụ thể :
* Đoạn 1 :        “Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa
                                    Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường.
                                    Con đã đi nhưng con cần vượt nữa
                                    Cho con về gặp lại Mẹ yêu thương.”
            - Nội dung chủ yếu : công lao của Tây Bắc trong mười năm nhưng sức lan tỏa là “nghìn năm sau”. Phân tích hình ảnh: ngọn lửa, thời gian: mười năm - nghìn năm, cách xưng danh “Con – Mẹ”.
            - Nghệ thuật đặc sắc : giọng thơ như lời tâm sự, mang ý nghĩa triết lí sâu sắc (mười năm – nghìn năm, ngôn từ: Mẹ - Đất nước, Tây Bắc).
            * Đoạn 2 : Hành trình trở về Tây Bắc
                                    “Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
                                    Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa,
                                    Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
                                    Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.”
            - Nội dung chủ yếu : trở về với nhân dân, Việt Bắc là sự cần thiết nhất trong cuộc sống: cội nguồn, môi trường để con người phát triển tài năng, thỏa mãn những nhu cầu vật chất lẫn tinh thần.
            - Nghệ thuật đặc sắc : biện pháp tu từ so sánh, ngôn từ tạo hình, biểu cảm.
            · Cảm nhận chung : Đoạn thơ mang phong cách suy tưởng và ý nghĩa triết lí sâu sắc “Uống nước nhớ nguồn” và nhất là ngôn từ tạo hình, tạo cảm.
            3) Đánh giá về tác giả, đoạn thơ để rút ra bài học triết lí :
                                    “Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
                                    Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”
                                                                        (Chế Lan Viên)
Nguyễn Đức Hùng, Hồ Kỳ Thuận
(TT Luyện thi Đại học Vĩnh Viễn – TP.HCM)

----------------------------------------
Đề Văn khối D: Hay, phù hợp chương trình THPT
Đề thi hay, câu hỏi phù hợp với chương trình môn Ngữ văn THPT. Các câu hỏi đều hướng tới sự tư duy sáng tạo, kích thích được hứng thú của thí sinh khi làm bài. Có thể đề hơi dài.
Câu 1: Vẫn hỏi kiến thức cơ bản về phương diện nghệ thuật giàu tính dân tộc của đoạn trích bài thơ Việt Bắc, tuy nhiên nếu chỉ học gạo, khó có thể đạt điểm tối đa.
Câu 2: Vấn đề đưa ra bàn luận rất gần gũi với lứa tuổi vừa tốt nghiệp phổ thông, lại gợi hứng thú để thí sinh bộc lộ chân thành suy nghĩ của mình, khi ở lứa tuổi này các em rất hay thích các thần tượng; mặt khác nó hướng các em biết suy nghĩ nghiêm túc, phù hợp về hướng phấn đấu của bản thân.
Câu 3a: Cách hỏi hay nhưng không đánh đố. Thí sinh có kiến thức vẫn phải tư duy mới hướng việc giải quyết vấn đề vào cách làm rõ một nét phong cách truyện ngắn của Thạch Lam qua khung cảnh phố huyện và tâm trạng của nhân vật Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ.
Câu 3b: Đòi hỏi không chỉ phân tích một đoạn thơ trong bài Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên mà thí sinh còn phải biết chỉ ra và đánh giá được chất suy tưởng triết lý và nghệ thuật sáng tạo hình ảnh của Chế Lan Viên trong đoạn thơ. Yêu cầu này có tính phân loại cao và phù hợp với thí sinh học chương trình nâng cao.
Giáo viên Hà Phương Minh(Trung tâm luyện thi ĐH Vĩnh Viễn, TP.HCM)

Để vượt qua kì thi một cách hoàn hảo

Bí quyết đạt "điểm rơi phong độ" ngay trong ngày thi
TTO - Làm thế nào để đạt kết quả tốt nhất có thể tương ứng với khả năng của mình khi tham gia những kỳ thi quan trọng? Để làm được điều đó, các bạn cần quan tâm đến một khái niệm được gọi là “điểm rơi phong độ”.
Các thí sinh thi môn Toán tại Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐHQG TP.HCM) sáng 4-7 - Ảnh: Minh Đức

Phong độ học tập của các bạn sẽ có lúc lên “cao chót vót” (những lúc tập trung cao độ hoặc những lúc các bạn dành nhiều thời gian đầu tư học tập) nhưng cũng có lúc phong độ “rơi tự do” (vì bận xem những bộ phim hay, những chuyến đi chơi...).
"Điểm rơi phong độ" là thời điểm “phong độ” của mình đạt ở đỉnh cao nhất, điều đó có nghĩa là các bạn cần “canh” làm sao mà ngay ngày thi, “phong độ” học tập của các bạn đạt ở mức “thượng thừa”. Chắc hẳn các bạn tự hỏi làm sao để phong độ đạt ở đỉnh điểm cao nhất khi kỳ thi diễn ra. Các bạn cần quan tâm các yếu tố sau:
Tâm lý phải vững vàng
Trong kết quả khảo sát bỏ túi gần đây do Trung tâm đào tạo kỹ năng sống Ý Tưởng Việt thực hiện với hơn 2.000 học sinh lớp 12 tại TP.HCM với câu hỏi: “Hai tuần trước kỳ thi đại học, bạn làm gì?” thì có hơn 90% học sinh trả lời: Em sẽ nghỉ ngơi, thư giãn”. Nhưng khi khảo sát thực tế lại có hơn 85% trong số các bạn đó “cắm đầu cắm cổ” học ngày học đêm đến nỗi mắt thâm quầng, mặt mày xanh như... tàu là chuối và không còn chút tâm lý nào để bước vào kỳ thi.
Hai yếu tố chính ảnh hưởng đến tâm lý thí sinh trước kỳ thi.
Thứ nhất: áp lực từ gia đình, bắt buộc thí sinh phải thi đậu để nở mày nở mặt với gia đình, với bà con chòm xóm.
Thứ hai: áp lực do chính thí sinh tạo ra vì ganh đua bạn bè, với suy nghĩ: "Bạn mình đậu mà mình không đậu thì quê lắm".
Chính những áp lực này khiến thí sinh như mang trên vai mình một tảng đá lớn và mang tâm lý nặng nề vào phòng thi, khiến chất lượng bài thi thấp hơn rất nhiều so với khả năng thực tế.
Bí quyết có tâm lý thoải mái trước ngày "xung trận"
Thứ nhất: tư duy tích cực. Thay vì lo sợ: "Chết rồi, mai là ngày thi, phải làm sao đây?” thì hãy nghĩ: “Mình rất tự tin chào đón kỳ thi! Vũ khí của mình là kiến thức. Đề có thế nào thì mình cũng có thể đối phó được”.
Thứ hai: thí sinh hãy dẹp bỏ tư tưởng: "Đã thi là phải đậu, không đậu thì mình sẽ... chết". Thay vào đó, hãy suy nghĩ sẽ cố gắng hết khả năng. Như vậy, tâm lý bạn sẽ nhẹ nhàng và thoải mái hơn khi đối mặt với kỳ thi.
Những bí quyết nho nhỏ cho sức khỏe ngày thi
Thứ nhất: để đảm bảo dạ dày và hệ tiêu hóa hoạt động tốt, ba ngày trước ngày thi thí sinh cần chọn ăn đúng một món ăn sáng bạn thích nhất như: cơm chiên, phở, hủ tiếu… nhưng chỉ nên ăn đúng một loại thức ăn và ở đúng một quán để cơ thể thích nghi tốt nhất.
Vào ngày thi, nhiều thí sinh ra quán ăn gần điểm thi ăn đại món nào đó lót bụng, khiến không ít bạn vào phòng thi mà mặt mày nhăn nhó, tay ôm bụng vì cơn đau quằn quại.
Thứ hai: thí sinh cần tập thói quen dậy sớm trước ngày thi ít nhất ba ngày để đồng hồ sinh học tự điều chỉnh thích nghi với thời gian đó. Có những trường hợp các bạn thí sinh đành ngậm ngùi tiếc nuối chỉ vì đến hội đồng thi trễ 15 phút.
Các bí quyết hữu ích trong phòng thi
Khi đi thi, ngoài những vật dụng cần thiết phục vụ việc làm bài thì thí sinh còn cần mang theo những vật gì?
Thứ nhất: thời gian làm bài thi khá dài dễ gây mất năng lượng, chính vì vậy việc mang theo một thanh chocolate để bổ sung năng lượng có thể là ý tưởng nghe khá lạ nhưng rất thực tế. Chocolate có nhiều chất đường, cung cấp năng lượng cấp thời cho não, bên cạnh đó còn có chất cafein giúp bạn giữ tỉnh táo. Xem xét kỹ quy chế thi hiện nay thì không có khoản nào cấm thí sinh mang kẹo vào phòng thi.
Thứ hai: thí sinh cần mang theo đủ nước để uống. Theo các chuyên gia tâm lý, rất có thể nước làm tăng tốc độ truyền thông tin giữa các tế bào não. Một khả năng khác là những người uống đủ nước sẽ không bị phân tán tư tưởng bởi cảm giác khát nước mà nhờ đó có thể tập trung giải quyết bài thi. Nhiều nghiên cứu cũng chứng minh rằng não người trưởng thành hoạt động hiệu quả hơn sau khi họ uống nước đầy đủ.
Thứ ba: khi nào nên xin tiếp giấy thi? Hầu hết thí sinh trả lời đó là khi viết hết tờ giấy thi hiện có. Nếu làm vậy thì dòng suy nghĩ sẽ bị cắt đứt trong khi chờ giám thị ký tên rồi mang giấy thi đến. Thay vào đó, khi viết đến trang thứ 4 của tờ giấy thi, bạn hãy nhanh chóng giơ tay xin tờ khác để có thể sử dụng ngay khi vừa viết xong và dòng suy nghĩ không bị ngắt quãng.
Thứ tư: bạn nhớ mang theo đồng hồ để luôn kiểm soát sát sao lượng thời gian đã trôi qua, đồng thời tránh quay qua hỏi thí sinh khác hay hỏi giám thị. Một ít khăn giấy cũng sẽ rất cần thiết nếu bạn ra mồ hôi nhiều hay nhằm lúc trời mưa, làm đổ nước khi uống...

Chuyên viên tâm lý ĐÀO LÊ HÒA AN

http://tuoitre.vn/Tuyensinh/Bi-quyet-hoc-thi/445045/Bi-quyet-dat-diem-roi-phong-do-ngay-trong-ngay-thi.

Hôm ngày 4/7 tôi đi dự thi thì có một số thí sinh phòng tôi mang nước vào phòng thi. Nhưng giám thị không cho phép và đề ngị mang chai nước ra ngoài. Các thí sinh đã rất ngạc nhiên vì điều này vì theo quy chế mà nói ko có việc cấm thí sinh mang nước vào phòng thi. Vậy nếu tôi gặp phải sự việc này một lần nữa, tôi nên mang chai nước ra khỏi phòng hay vẫn tiếp tục đem vào phòng thi, vì như thế là trái ý giám thị.
NHẬT ANH
Cảm ơn Tuổi Trẻ!
04/07/2011 10:38:55 CH
Em là thí sinh sắp thi đợt ngày 9/7/2011 sắp tới, bài viết với những nội dung rất bổ ích cho những sĩ tử như tụi em. Đặc biệt là chi tiết "chỉ cần bị phát hiện mang điện thoại vào khu vực thi mặc dù đã nộp bài làm cũng bị lập biên bản". Em sẽ gửi điện thoại cho người thân luôn cho chắc ăn. Cảm ơn chuyên viên tâm lý đã rất ..."tâm lý".
HỒNG ÂN
ý kiến hay
04/07/2011 9:28:50 CH
Ý kiến rất hay, đặc biệt là ý thứ ba bởi vì hôm nay thi môn toán tôi mắc phải sai lầm tương tự. tuy nhiên bài viết đưa ra quá muộn.
DECONNGOANNGOAN03
Bài viết rất thực tế
04/07/2011 8:26:16 CH
Tôi là một giám thị đã từng gác thi đại học rất nhiều lần và khi nghe hội đồng phổ biến quy chế thi, chưa hề thấy có việc nói rằng thí sinh không được mang kẹo (như singgum,...) và nước vào phòng thi bao giờ. Các bạn thí sinh cứ yên tâm nếu như các vật các bạn mang theo vào phòng thi không nằm trong danh sách vật cấm mang vào theo quy chế tuyển sinh do bộ Giáo dục và đào tạo ban hành!
NLK
Thiết thực cho thí sinh
04/07/2011 8:07:20 CH
Tâm lý khi đi thi là điều cực kỳ quan trọng, bạn có một tâm lý vững vàng và tự tin chắc chắn bài làm sẽ đạt kết quả cao. Năm ngoái tôi đã rớt chỉ vì quá lo sợ và bị áp lực rất lớn. Năm nay khi đã quyết tâm và chú tâm vào việc rèn dũa kiến thức nhiều hơn thì tôi cảm thấy rất tự tin. Cảm ơn bài viết đã cung cấp nhiều cách thức hay giúp thí sinh có tâm lý thoải mái hơn để đón chờ kì thi...
TRẦN HOÀNG PHÚC
Đồng ý với bạn Hoàng
04/07/2011 8:04:07 CH
Tôi là một sinh viên năm 3. đã trải qua cảm giác thi cử và cả cảm giác chờ đợi người đi thi. Rất đồng ý với ý kiến bạn Hoàng, hầu như việc mang kẹo vào phòng thi là không thể, và cũng không ai làm vậy cả.
Kỳ thi ĐH là một kỳ thi rất quan trọng, nếu không muốn nói là quan trọng nhất đời người nên việc có những suy nghĩ như thế cũng dễ hiểu, đúng là những suy nghĩ trong đầu thì chẳng dễ gì để có thể kiểm soát được.
Theo nhận xét của bản thân thì tôi nghĩ thời gian căng thẳng nhất của kỳ thi ĐH là từ lúc ngồi chờ đợi làm thủ tục, phát đề trong môn đầu tiên và khoảng 30ph sau khi phát đề, đã có rất nhiều thí sinh run tới mức không thể cầm bút viết gì được, và hầu như thời gian này làm rất dễ sai, nếu làm chủ được thời gian này thì khá yên tâm trong toàn bộ bài làm .

HTC
Phải áp dụng ngay...
04/07/2011 8:02:14 CH
Mình thấy mang theo thanh kẹo socola là một ý tưởng tuyệt vời, vừa giúp bổ sung năng lượng vừa có thể giúp đầu óc sĩ tử tỉnh táo trong suốt 3h đồng hồ, phải áp dụng ngay mới được.
TRẦN XUÂN LONG
Bài viết quá hay
04/07/2011 7:58:24 CH
Sáng nay đi thi do ăn trúng thức ăn không rõ nguồn gốc gần trường mà mình bị đau bụng không thể làm bài tốt, phải rút kinh nghiệm cho đợt thi sau mới được, cảm ơn Tuổi Trẻ rất nhiều...
NGUYỄN THỊ MAI THI
Bài viết thiết thực
04/07/2011 7:52:51 CH
Khi đọc xong bài viết tự nhiên em thấy mình thoải mái hơn và không còn sợ kỳ thi như trước. Sáng nay đi thi em quên mang theo nước và cảm thấy rất khó chịu vì bị khát nước, việc xin giám thị đi ra ngoài uống nước rất khó khăn và lại mất thời gian. Cảm ơn bài viết đã cung cấp nhiều điều cần lưu ý cho sĩ tử tụi em.
HUỲNH LONG

    Từ đề thi Môn Văn TN THPT 2011

    Từ kỳ thi THPT 2011: thầy đoán đề, trò học tủ

    giaoduc.edu.vn Thứ Hai, 20 Tháng sáu 2011, 16:06 GMT+7 
    Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2011 vừa qua, đề thi môn Văn được nhiều người quan tâm. Cụ thể ở câu hỏi số 1 của môn Văn được đánh giá là một câu hỏi hay và vừa sức nhưng lại gây ra không ít bỡ ngỡ cho học sinh và cho cả giáo viên. Phần lớn những giáo viên được hỏi cho rằng đề ra bất ngờ và nhiều học sinh cũng không làm bài được vì cảm thấy lúng túng. Tại sao?
    Câu hỏi ấy như sau: “Trong đoạn cuối truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, nhân vật nghệ sĩ Phùng mỗi khi ngắm kĩvà nhìn lâu hơn tấm ảnh do mình chụp thường thấy hiện lên những hình ảnh nào? Những hình ảnh đó nói lên điều gì?”. Đây là một câu hỏi hay và vừa sức. Hay bởi lẽ cách hỏi phát huy được khả năng tư duy và năng lực cảm thụ văn chương của học sinh. Vừa sức bởi lẽ nó không đánh đố, bám sát chương trình, hỏi về một chi tiết quan trọng không thể bỏ qua khi dạy và học “Chiếc thuyền ngoài xa”. Thế nhưng lạ một điều là một câu hỏi hay và vừa sức như thế lại gây ra không ít bỡ ngỡ cho học sinh và cho cả giáo viên. Phần lớn những giáo viên được hỏi cho rằng đề ra bất ngờ. Nhiều học sinh không làm bài được vì cảm thấy lúng túng trước một dạng đề còn xa lạ với các em.
    Một lớp ôn thi tốt nghiệp 12 ở huyện Bắc Hà, Lào Cai. Ảnh Tráng Xuân Cường
    Nguyên nhân của điều này có lẽ xuất phát từ cách ra đề của Bộ GD-ĐT. Nhiều năm liền, câu hỏi 1 trong đề thi tốt nghiệp môn Ngữ Văn ra trong phần văn học nước ngoài. Nếu có ra phần văn học Việt Nam thì thường cũng chỉ dừng lại ở mức độ trình bày hiểu biết về tác giả, tác phẩm. Cách ra đề như thế tạo cho giáo viên và học sinh thói quen đoán đề và học tủ. Có những giáo viên dành nhiều thời gian  đoán đề và yêu cầu học sinh học tủ thay vì cung cấp kiến thức và hướng dẫn kĩ năng để học sinh có thể làm được bất cứ dạng đề nào. Nhiều học sinh chỉ học kĩ một vài bài, luyện một vài kiểu đề mà bản thân mình hoặc các thầy cô giáo đoán là sẽ ra. Những bài còn lại hầu như không ngó ngàng tới. Học tủ và đoán đề nếu có trúng chăng nữa cũng chỉ trúng khi đề thi ra theo hướng quen thuộc như từ trước đến giờ. Đề thi đi chệch khỏi hướng ấy, lẽ dĩ nhiên gây ra không ít khó khăn, bỡ ngỡ. Cũng giống như một người ngày này qua ngày nọ đi mãi trên một con đường mòn. Nay bảo đi theo đường khác thì tránh sao khỏi bị lạc.
    Thói quen đoán đề và học tủ còn là sản phẩm của một tư tưởng lạc hậu và một tầm nhìn hạn hẹp trong giáo dục. Mục đích cao quý nhất của giáo dục là bồi dưỡng cho con người trí tuệ và nhân cách, giúp con người hiểu biết và sống đẹp hơn chứ không phải là để đạt được mấy điểm trong thi cử.
    Đã đành rằng học thì phải thi và điểm thi là thước đo để đánh giá trình độ của người học. Nhưng điểm thi chỉ đáng quý khi nó được tạo nên từ năng lực thực sự của người học. Cho nên nhiệm vụ của người giáo viên là cung cấp kiến thức và hướng dẫn kĩ năng để học sinh làm bài tốt. Nhiệm vụ của học sinh là ôn tập thật kĩ tất cả mọi kiến thức cần thiết dành cho kì thi. Tuyệt đối không được dựa vào chuyện đoán đề hay học tủ. Nói thế để thấy rằng cần thiết phải loại bỏ tình trạng “thầy đoán đề, trò học tủ” trong một bộ phận giáo viên và học sinh ta hiện nay. Muốn thế phải tiếp tục đổi mới cách ra đề theo hướng sáng tạo, phong phú và đa dạng hơn. Đồng thời phải có biện pháp tạo nên sự thay đổi từ trong nhận thức, tư tưởng và suy nghĩ của chính giáo viên và học sinh.               
    Hồ Tấn Nguyên Minh
    (Trường THPT chuyên Lương Văn Chánh, Phú Yên)

    TS10 2011:Đề thi vào lớp Chuyên Văn TP.HCM


    KÌ THI TUYỂN SINH LỚP 10 CHUYÊN TRUNG HỌC PHỔ THƠNG
    Khóa ngày 21 tháng 06 năm 2011 tại TPHCM
    Môn thi : CHUYÊN VĂN
    Thời gian: 150 phút (không tính thời gian giao đề)


    ĐỀ CHÍNH THỨC

    Câu 1: NLXH (8 điểm)


    Mẹ và Quả
    - Nguyễn Khoa Điềm -

    Những mùa quả mẹ tôi hái được
    Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
    Những mùa quả lặn rồi lại mọc
    Như mặt trời khi như mặt trăng
    Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
    Còn những bí và bầu thì lớn xuống
    Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
    Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi
    Và chúng tôi, một thứ quả trên đời
    Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái
    Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi
    Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.

     SUY NGHĨ CỦA ANH (CHỊ) VỀ TÌNH CẢM CỦA NGƯỜI CON ĐỐI VỚI CHA MẸ QUA BÀI THƠ TRÊN


    Câu 2:  NLVH (12 điểm)


     Qua một số tác phẩm văn xuôi đã học, anh (chị) hãy làm sáng tỏ nhận định:
     " Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học"

    Đề - Đáp án chính thức môn Văn TS10 2011

    KÌ THI TUYỂN SINH LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THƠNG
    Khóa ngày 21 tháng 06 năm 2011 tại TPHCM
    Môn thi : VĂN
    Thời gian: 120 phút (không tính thời gian giao đề)


    ĐỀ CHÍNH THỨC

    Câu 1: (1 điểm)
    Trong truyện ngắn Làng, Kim Lân đã xây dựng một tình huống truyện làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê và lòng yêu nước của nhân vật ông Hai. Đó là tình huống nào?
    Câu 2: (1 điểm)
                                                    Kim vàng ai nỡ uốn câu,
                                        Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời.
                Câu ca dao trên khuyên chúng ta điều gì? Điều đó liên quan đến phương châm hội thoại nào?
    Câu 3: (3 điểm)
                Mẹ sẽ đưa con đến trường, cầm tay con dắt qua cánh cổng, rồi buông tay mà nói: “Đi đi con, hãy can đảm lên, thế giới này là của con,…”
                                                                            (Theo Lí Lan, Cổng trường mở ra)
                Từ việc người mẹ không “cầm tay” dắt con đi tiếp mà “buông tay”để con tự đi, hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi) bàn về tính tự lập.
    Câu 4: (5 điểm)
    Cảm nhận về cảnh mùa xuân trong bốn câu thơ đầu và sáu câu thơ cuối của đoạn trích Cảnh ngày xuân:

    Ngày xuân con én đưa thoi,
    Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
    Cỏ non xanh tận chân trời,
    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
    […]
    Tà tà bóng ngà về tây,
    Chị em thơ thẩn dan tay ra về
    Bước dần theo ngọn tiểu khê,
    Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
    Nao nao dòng nước uốn quanh,
    Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
    (Nguyễn Du, Truyện Kiều)
    --------------------------------------------------------

    ĐÁP ÁN CHÍNH THỨC